NongTrang.comNông Trang
Gà vịt đàn nhỏ

Chăm đàn gà vịt nhà qua nắng nóng, mưa dầm và rét đậm: việc theo mùa từng miền

Gà vịt đàn nhỏ chịu thời tiết kém hơn người nghĩ. Dấu hiệu gà say nắng, gà nhiễm lạnh, việc làm chuồng trước mùa mưa bão, mùa thay lông và lịch theo mùa của ba miền.

Hens sheltering under a straw-covered lean-to beside a vegetable garden during heavy rain, puddles on red soil, viewed from a veranda at a distance

Đàn gà vịt gia đình cần chăm khác nhau theo ba kiểu thời tiết chính: nắng nóng thì bóng mát, nước mát và cho ăn giờ mát; mưa dầm thì nền khô, đệm lót thay thường và phòng cầu trùng; rét đậm thì chuồng kín gió nhưng vẫn thoáng, gà con giữ ấm kỹ. Mùa thay lông, gà ngừng đẻ vài tuần đến vài tháng, cần thêm đạm, và đó là chuyện bình thường chứ không phải bệnh.

Bài này gom việc chăm theo mùa cho cả ba miền, kèm dấu hiệu nhận biết gà đang khổ vì thời tiết. Mốc thời gian chỉ là khoảng chung; mỗi năm, mỗi vùng mỗi khác, nên nhìn trời và nhìn gà vẫn hơn nhìn lịch.

Lịch theo mùa của ba miền: những việc chính

Bảng dưới gom những giai đoạn thời tiết khó khăn nhất cho gà vịt ở mỗi miền và việc nên làm trước khi giai đoạn ấy đến:

MiềnGiai đoạn khóViệc chuẩn bị trước
Bắc BộRét đậm, rét hại khoảng tháng 12 đến tháng 2; nồm ẩm cuối đông đầu xuân; nắng nóng tháng 6–7Che chắn hướng gió mùa đông bắc, bạt cuốn, rơm lót dày; kiểm mái trước mùa nồm; trồng giàn che phía tây trước hè
Bắc Trung Bộ, Trung BộGió Tây khô nóng đầu hè; mưa bão, lũ khoảng tháng 9 đến tháng 11Che nắng phía tây, nước dự trữ; gia cố mái, nền cao, chuẩn bị chỗ dời gà khi nước lên
Tây NguyênMùa khô nắng gió kéo dài; đêm lạnh ở vùng caoNước uống dự trữ, bóng mát; chuồng kín gió đêm
Nam BộMùa mưa khoảng tháng 5 đến tháng 11; nắng nóng cuối mùa khô tháng 3–4Nền chuồng cao, rãnh thoát nước, mái kín hắt; bóng mát, nước mát mùa nắng

Theo cách phân loại của ngành khí tượng Việt Nam, rét đậm là khi nhiệt độ trung bình ngày khoảng từ 15 độ C trở xuống, rét hại là khoảng từ 13 độ C trở xuống. Những ngày ấy thường chỉ có ở Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ và vùng núi cao, nhưng gà con ở đâu cũng sợ đêm lạnh và gió lùa.

Nắng nóng: nhận ra gà say nắng và việc làm ngay

Gà không có tuyến mồ hôi, chúng hạ nhiệt chủ yếu bằng thở. Dấu hiệu gà đang nóng quá: há mỏ thở nhanh, xoè hai cánh ra khỏi thân, nằm bẹp trên đất mát, uống nước liên tục, bỏ ăn, đẻ ít, vỏ trứng mỏng. Gà nặng cân, gà lông dày và gà đang đẻ chịu nóng kém nhất. Nếu gà nằm lả, mắt nhắm, mào tái, đó là đã say nắng nặng.

Việc làm ngay: đưa gà vào bóng râm thoáng gió, cho uống nước mát (không phải nước đá), có thể nhúng chân hoặc làm ướt nhẹ phần dưới cánh. Không dội nước lạnh lên cả con gà đang lả. Với cả đàn, phun sương mát lên mái chuồng, thay nước nhiều lần trong ngày, thêm máng nước ở chỗ râm.

Phòng từ trước: trồng giàn bầu bí, chanh dây, cây ăn trái tán rộng phía tây chuồng; mái chuồng phủ thêm rơm, lá dừa hoặc lưới che để giảm nóng tôn. Cho ăn sáng sớm và chiều muộn, giảm thức ăn giờ trưa; rau xanh, dưa hấu vỏ, bí giúp gà có thêm nước. Không bắt gà, không vận chuyển gà vào giờ nóng.

Gió Tây khô nóng ở miền Trung

Những đợt gió Tây khô nóng, người miền Trung quen gọi là gió Lào, làm không khí vừa nóng vừa khô. Gà vịt mất nước rất nhanh, nhất là vịt và ngan quen nước. Nước trong máng bằng nhựa phơi nắng có thể nóng lên tới mức gà không chịu uống.

Đặt máng nước trong bóng râm, dùng chậu đất nung giữ nước mát hơn, thay nước ba bốn lần một ngày. Che phía tây chuồng bằng phên, bao tải ướt hoặc vải dày; nhiều nhà treo bao tải ướt ở cửa gió để gió thổi qua mát hơn. Vịt, ngan thì thêm chậu nước nhúng đầu trong bóng râm.

Gió khô làm bụi bay nhiều, đệm lót khô quá cũng tung bụi làm gà dễ bị bệnh đường hô hấp. Tưới nhẹ quanh sân, phủ lá ẩm ở góc gà tắm đất. Sau những đợt gió nóng thường là mùa mưa bão, nên tranh thủ thời gian này kiểm mái, cột và nền chuồng luôn.

Những ngày gió nóng cũng là lúc trứng hỏng nhanh trong ổ. Nhặt trứng hai ba lần mỗi ngày, cất ngay vào chỗ mát trong nhà; trứng để cả buổi trưa trong ổ nóng thì lòng loãng nhanh, ăn sớm hơn trứng thường.

Mưa dầm và nồm ẩm: chống ẩm chuồng

Nền khô là việc số một. Nền chuồng ẩm lâu ngày là nơi cầu trùng, nấm mốc, giun sán phát triển. Nâng nền cao hơn sân, đào rãnh thoát nước quanh chuồng trước mùa mưa.

Mái kín mưa hắt. Kiểm mái và vách phía hướng mưa, che thêm bạt cuốn để buông xuống khi mưa xiên, cuốn lên khi tạnh để chuồng thoáng.

Đệm lót thay thường xuyên hơn. Rơm, trấu ướt thì cào ra ngay, đưa vào đống ủ, lót lớp mới. Mùa nồm ở miền Bắc, nền khô rồi lại đổ mồ hôi, cần rắc thêm trấu khô nhiều lần.

Thức ăn chống mốc. Thóc, cám, ngô mùa mưa rất nhanh mốc. Mua hoặc xay lượng vừa đủ dùng trong ít ngày, cất thùng kín, kê cao.

Vịt, ngan mùa mưa. Vịt và ngan thích mưa, nhưng chuồng ngủ của chúng vẫn phải khô. Sau những ngày mưa dài, kiểm chân vịt ngan xem có sưng, nứt gan bàn chân vì đứng bùn lâu không; kê thêm sàn tre hoặc ván cho chúng đứng khô ban đêm.

Giun sán sau mùa mưa. Đất ẩm lâu, gà nhặt nhiều giun đất và ốc, là vật chủ trung gian của một số giun sán. Gà gầy dần dù ăn khoẻ thì hỏi thú y xã về tẩy giun cho gia cầm, dùng đúng nhãn và thời gian ngừng trước khi ăn trứng.

Để ý phân có máu. Gà con, gà dò ủ rũ, xù lông, phân có lẫn máu hoặc phân sáp nâu là dấu hiệu hay gặp của cầu trùng, bệnh thường bùng lên khi nền ẩm. Tách con ốm và hỏi thú y xã về thuốc, dùng đúng nhãn và thời gian ngừng.

Mùa bão, lũ: chuẩn bị cho đàn gà vịt

Ở miền Trung, đồng bằng Bắc Bộ và nhiều vùng trũng Nam Bộ, mùa bão lũ là lúc dễ mất trắng cả đàn. Chuẩn bị trước:

  • Gia cố mái chuồng bằng dây néo, đè bao cát; mái tôn nhẹ là thứ bị gió giật bay đầu tiên.
  • Chọn trước một chỗ cao trong nhà hoặc trên gác, sàn cao, để dời gà vịt khi nước lên; có sẵn lồng, bao tải để bắt nhanh.
  • Dự trữ thức ăn khô trong thùng kín đặt chỗ cao, đủ cho vài ngày.
  • Không để trẻ con lội nước đi bắt gà vịt trong lúc nước đang lên.
  • Sau lũ: dọn bùn, rửa chuồng, phơi khô, rắc vôi bột lên nền trước khi đưa gà về; nước lũ có thể mang mầm bệnh.
  • Gà vịt chết trong lũ chôn sâu xa nguồn nước, không ăn, không bán; chết nhiều thì báo thú y xã.

Đừng vì cứu đàn gà mà đặt người vào nguy hiểm. Gà vịt có thể nuôi lại; thời tiết xấu thì ưu tiên người, sau đó mới tới đàn nuôi.

Chọn mùa cho gà mẹ ấp và gà con lớn

Rất nhiều lứa gà con chết trong nông trang gia đình không phải vì bệnh mà vì nở sai mùa. Gà con nở giữa đợt rét đậm ở miền Bắc, hay giữa tháng mưa dầm ở Nam Bộ, phải sống những tuần đầu đời trong thời tiết khó nhất, và gà mẹ dù khéo cũng không ủ được cả lứa qua những đêm lạnh ẩm kéo dài.

Mùa thuận cho gà mẹ ấp thường là lúc thời tiết ôn hoà và ổn định trong khoảng hai tháng sau khi nở: ở miền Bắc là cuối xuân, sau đợt nồm, hoặc đầu thu khi nắng đã dịu; ở miền Nam là đầu và giữa mùa khô; ở miền Trung tránh mùa mưa bão cuối năm và những tuần gió nóng đầu hè.

Mái đòi ấp vào lúc không thuận thì có thể cai ấp nhẹ nhàng, hoặc cho ấp nhưng chuẩn bị sẵn quây úm kín gió, có che mưa và nguồn sưởi an toàn. Gà con nở đúng mùa lớn nhanh, ít hao, và đến mùa khó khăn kế tiếp đã đủ lông, đủ sức.

Rét đậm, rét hại: giữ ấm mà không bí

Gà lớn khoẻ chịu lạnh khá tốt nếu chuồng kín gió và khô; thứ làm gà ốm trong mùa rét là gió lùa và ẩm, nhiều hơn là bản thân nhiệt độ. Gà con, gà mới thay lông, gà ốm thì sợ lạnh thật sự.

Che chắn ba mặt chuồng phía gió mùa bằng bạt, phên, bao tải; để mặt khuất gió có lưới thoáng phía trên cao để hơi ẩm và khí amoniac từ phân thoát ra. Chuồng kín bưng không thoáng thì gà dễ bị bệnh đường hô hấp. Lót rơm dày; nhiều nhà ở miền Bắc dùng cách lót đệm sâu, cứ thêm lớp rơm trấu khô lên trên, lớp dưới phân huỷ chậm toả chút hơi ấm.

Cho gà ăn thêm bữa tối nhiều tinh bột như thóc, ngô để có năng lượng qua đêm, nước uống thay sáng sớm để không đóng băng ở vùng núi cao. Gà con mất mẹ thì úm bằng đèn sưởi trong quây kín, đặt đèn xa vật dễ cháy, có góc mát để gà tự tránh khi nóng; không dùng bếp than trong chuồng kín vì khí độc.

Mùa thay lông và những tuần gà ngừng đẻ

Mỗi năm, thường vào cuối hè sang thu khi ngày ngắn lại, gà mái trưởng thành thay lông. Lông rụng nhiều trong chuồng, gà trông xơ xác, ít đẻ hoặc ngừng hẳn trong vài tuần đến vài tháng. Đây là quá trình tự nhiên, không phải bệnh; lông mới mọc cần rất nhiều đạm nên cơ thể gà dồn đạm từ trứng sang lông.

Trong mùa thay lông, tăng nguồn đạm: giun, mối, cá vụn nấu chín, bã đậu, sâu từ ô vườn luân phiên. Hạn chế bắt, ôm gà vì chân lông mới mọc còn có máu, dễ đau. Giữ chuồng ấm hơn vì gà ít lông chịu lạnh kém, nhất là khi thay lông trùng đợt rét đầu mùa.

Chính những tháng này mới cho thấy vì sao nên nuôi dư số mái so với nhu cầu trứng, và vì sao một đàn có nhiều lứa tuổi đẻ đều hơn: gà tơ năm đầu thường chưa thay lông nặng, nên vẫn đẻ trong lúc mái già nghỉ. Ghi vào sổ thời điểm đàn thay lông mỗi năm để năm sau tính trước số trứng hụt, và biết trước mùa nào nên ăn trứng dè hơn.

Câu hỏi thường gặp

Gà há mỏ thở và xoè cánh có phải bị bệnh không?

Nếu xảy ra vào lúc trời nóng và gà vẫn ăn uống, chạy nhảy khi trời mát, thường là gà đang hạ nhiệt. Đưa gà vào chỗ râm, thêm nước mát. Nếu gà thở khò khè, chảy nước mũi, há mỏ cả lúc trời mát, có thể là bệnh đường hô hấp và nên hỏi thú y xã.

Gà ngừng đẻ vào mùa thu có sao không?

Phần lớn là do thay lông và ngày ngắn lại, đây là chuyện tự nhiên. Gà sẽ đẻ lại sau khi lông mới mọc đủ, thường vài tuần đến vài tháng. Tăng đạm trong khẩu phần giúp gà thay lông nhanh hơn. Nếu gà ngừng đẻ kèm ủ rũ, bỏ ăn thì cần tìm nguyên nhân khác.

Có nên thắp đèn ban đêm cho gà đẻ mùa đông không?

Thắp đèn kéo dài ngày giúp gà đẻ đều hơn mùa đông, và các trại vẫn làm. Với đàn gia đình, nhiều người chọn để gà nghỉ tự nhiên theo mùa để gà đỡ kiệt sức và đẻ bền hơn nhiều năm. Nếu dùng đèn, chỉ thêm vào buổi sáng sớm, dây điện đi an toàn, xa rơm.

Mùa rét có cần đóng kín hết chuồng gà không?

Không nên kín bưng. Che kín các mặt hứng gió nhưng để lỗ thoáng phía trên cao, ở mặt khuất gió, để hơi ẩm và khí từ phân thoát ra. Chuồng kín gió mà ẩm và ngột thì gà dễ mắc bệnh đường hô hấp hơn là vì lạnh.

Vịt có chịu rét tốt hơn gà không?

Vịt lớn có lớp lông tơ dày và mỡ dưới da nên chịu lạnh khá, nhưng vịt con thì rất sợ lạnh và ướt. Mùa rét không cho vịt con xuống nước, giữ quây khô. Vịt lớn cũng cần chuồng khô, lót rơm dày; chân vịt đứng nền ướt lạnh lâu dễ bị viêm.

Sau lũ có cần tiêm phòng lại cho gà vịt không?

Sau lũ, gia cầm yếu và dễ mắc bệnh, mầm bệnh trong nước bùn cũng nhiều. Nên vệ sinh, tiêu độc chuồng trại và hỏi thú y xã xem vùng mình có đợt tiêm phòng bổ sung không, thay vì tự tiêm. Theo dõi kỹ đàn trong vài tuần sau lũ.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.