Ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ, vườn rau gia đình đi theo ba vụ: vụ đông gieo từ khoảng tháng tám, tháng chín đến tháng mười hai cho rau họ cải, su hào, cà rốt, khoai tây; vụ xuân gieo từ tháng một, tháng hai đến tháng tư cho bầu bí, đậu, dưa chuột, cà chua; vụ hè thu từ tháng năm đến tháng tám cho rau muống, mồng tơi, rau dền, rau đay, mướp. Vụ đông là vụ dễ và nhiều rau nhất; vụ hè khó nhất vì nắng nóng, mưa giông và sâu bệnh.
Mốc tháng chỉ là khoảng; mỗi năm rét về sớm hay muộn, mưa nhiều hay ít khác nhau, nên nhìn trời và đất trước, nhìn lịch sau. Vùng núi phía Bắc lạnh hơn, mùa rau ôn đới dài hơn và mùa hè ngắn hơn đồng bằng. Bài này đi qua từng vụ, những tuần chuyển mùa dễ hỏng vườn, và cách giữ rau khi rét đậm hoặc nồm ẩm.
Bảng lịch gieo theo tháng cho vườn đồng bằng Bắc Bộ
Bảng dưới gom những loài rau phổ biến ở vườn nhà theo thời điểm gieo hoặc trồng, tính cho đồng bằng, trung du; vùng núi cao thường lùi vụ hè và kéo dài vụ đông.
| Thời điểm gieo, trồng | Rau ăn lá | Rau ăn quả, ăn củ |
|---|---|---|
| Cuối tháng 7 – tháng 8 (vụ đông sớm) | cải ngọt, cải xanh, rau cải chịu nóng | su hào sớm, bắp cải sớm ươm trong khay có che |
| Tháng 9 – tháng 10 (vụ đông chính) | cải bẹ, cải cúc, xà lách, rau mùi, thì là, cải làn | bắp cải, su hào, súp lơ, cà rốt, củ cải, khoai tây, đậu Hà Lan |
| Tháng 11 – tháng 12 (vụ đông muộn) | cải ngồng, xà lách, rau mùi, cải cúc | khoai tây muộn, hành tỏi, su hào muộn |
| Tháng 1 – tháng 3 (vụ xuân) | mồng tơi gieo sớm có che, rau dền cuối vụ | bí xanh, bí đỏ, bầu, mướp, dưa chuột, đậu đũa, đậu cô ve, cà chua xuân, cà tím |
| Tháng 4 – tháng 8 (vụ hè thu) | rau muống, mồng tơi, rau dền, rau đay, rau ngót, ngọn khoai lang | mướp, bí xanh, đậu đũa, khổ qua, ớt, cà pháo |
Vài loài như hành lá, rau ngót, lá lốt, sả, rau má trồng được gần như quanh năm, chỉ chậm lại khi rét đậm. Đây là nhóm giữ cho vườn không trống vào những tuần chuyển vụ.
Vụ đông: mùa vàng của vườn rau miền Bắc
Từ khoảng giữa tháng chín, khi trời bắt đầu hanh và đêm mát dần, rau họ cải, su hào, bắp cải, súp lơ, cà rốt, củ cải lớn đều và ít sâu bệnh hơn hẳn mùa hè. Đây là vụ nên dành nhiều luống nhất, vì phần lớn rau ăn lá, ăn củ của cả năm đến từ đây. Bắp cải và su hào nên ươm cây con trong khay hoặc luống ươm ba đến bốn tuần rồi mới đem trồng; cà rốt, củ cải gieo thẳng vì rễ cái không chịu bứng.
Đầu vụ đông sớm vào tháng tám vẫn còn nắng nóng xen mưa bão, nên cây con cần che lưới hoặc lá chuối buổi trưa, luống phải cao để thoát nước. Nhiều nhà gieo một đợt cải ngọt ngắn ngày ngay cuối tháng tám để lấp giáp vụ, rồi mới trồng bắp cải, su hào chính vụ vào tháng chín, tháng mười.
Cuối vụ đông là lúc gieo hành, tỏi, đậu Hà Lan, khoai tây muộn. Khi rét đậm kéo dài nhiều ngày, rau vẫn sống nhưng lớn rất chậm; đừng bón thêm đạm để ép lớn vì lá non mềm dễ bị rét làm hỏng hơn. Theo định nghĩa của ngành khí tượng, rét đậm là khi nhiệt độ trung bình ngày khoảng từ mười lăm độ trở xuống, rét hại từ mười ba độ trở xuống; đó là lúc nên phủ rơm gốc, che ni lông trắng ban đêm cho cây con và tưới vào giữa trưa thay vì sáng sớm.
Vụ xuân: lên giàn bầu bí và đối phó nồm ẩm
Vụ xuân bắt đầu khi rét đã giảm, thường từ sau Tết đến tháng ba. Đây là vụ của rau ăn quả: bầu, bí xanh, bí đỏ, mướp, dưa chuột, đậu đũa, đậu cô ve, cà chua, cà tím. Hạt bầu bí nảy mầm kém khi đất còn lạnh, nên nhiều nhà ngâm ủ hạt cho nứt nanh rồi gieo vào bầu đất để trong nhà hoặc dưới mái hiên, chờ trời ấm hẳn mới trồng ra luống.
Đặc sản khó chịu của vụ xuân miền Bắc là nồm ẩm: không khí gần bão hoà hơi nước, nền nhà, lá cây lúc nào cũng ướt. Nồm làm bệnh nấm như sương mai, phấn trắng, thối nhũn phát triển mạnh trên cà chua, dưa chuột, rau ăn lá cuối vụ đông. Cách phòng là trồng thưa hơn bình thường, tỉa lá già sát gốc cho thoáng, tưới gốc chứ không tưới lên lá, và nhổ bỏ ngay cây bệnh khỏi vườn thay vì để lại trên luống.
Giàn cho bầu, bí, mướp, đậu nên dựng xong trước khi cây ra tua, vì dựng muộn thì dây đã bò lan dưới đất, gãy ngọn khi nhấc lên. Giàn chữ A hoặc giàn ngang cao ngang đầu người đều được; giàn ngang để lại bóng mát phía dưới cho rau ăn lá vào đầu hè, một cách xếp tầng có ích ở vườn nhỏ.
Vụ hè thu: rau chịu nóng, chịu mưa
Từ tháng năm đến tháng tám là mùa khó nhất cho vườn rau miền Bắc: nắng gay gắt, những đợt nóng trên ba mươi lăm độ, xen với mưa giông, có năm có bão và gió Tây khô nóng tràn sang phía tây Bắc Bộ. Rau họ cải gần như không sống nổi ngoài trời; rau trồng được là những loài vốn ưa nóng ẩm.
Nhóm chủ lực của vụ hè gồm rau muống, mồng tơi, rau dền, rau đay, rau ngót, ngọn khoai lang, mướp, bí xanh, đậu đũa, khổ qua, cà pháo, ớt. Rau muống cạn và rau lang cắt ngọn nhiều lứa, gần như ngày nào cũng có một nắm cho nồi canh. Rau đay, mồng tơi nấu canh cua là món quen của mùa này cũng vì lẽ đó: đó là những loài rau còn xanh tốt khi các loài khác đã chịu thua.
Muốn có ít rau cải trong mùa hè, có thể gieo những giống cải chịu nhiệt trong luống có lưới che khoảng một nửa ánh nắng, tưới vào sáng sớm và chiều muộn, thu non khi cây được ba tuần tuổi. Sau mỗi trận mưa lớn cần khơi rãnh cho nước rút ngay; đất úng một hai ngày dưới nắng nóng đủ làm thối gốc cả luống.
Những tuần chuyển vụ dễ trống vườn
Cuối tháng tám, đầu tháng chín. Rau hè đã già, giàn mướp bí tàn, trong khi trời còn nóng để gieo rau vụ đông. Đây là lúc nên ươm sẵn cây con bắp cải, su hào trong khay có che, đồng thời giữ lại vài luống rau muống, mồng tơi cho tới khi rau mới hái được.
Tháng mười hai và tháng một. Rét đậm kéo dài khiến rau lớn chậm hẳn; rau trên luống lúc này là khoản dự trữ, nên thu tỉa dần từ cây to, để cây nhỏ tiếp tục lớn, đừng nhổ cả luống một lúc.
Tháng hai, tháng ba. Rau vụ đông bắt đầu ra ngồng, đắng; rau ăn quả vụ xuân chưa có quả. Có thể ăn ngồng cải non, ngọn su su, ngọn bí; đồng thời gieo một đợt rau dền, mồng tơi sớm ở chỗ ấm, kín gió.
Sau bão và lũ. Mưa bão làm dập giàn, ngập luống. Sau bão nên dựng lại giàn, cắt lá dập, và gieo ngay một đợt rau ngắn ngày như cải ngọt, rau muống để có rau sau vài tuần.
Những ngày mưa phùn kéo dài cuối đông. Trời âm u nhiều ngày khiến cây con trong khay vống, yếu. Nên đặt khay ươm ở chỗ sáng nhất có thể, tưới thưa đi, và không vội đem cây vống ra luống; cây con chắc, lá dày, thân thấp mới chịu được những ngày lạnh ẩm tiếp theo.
Vùng núi phía Bắc và những điều chỉnh cần thiết
Ở vùng núi cao phía Bắc, mùa đông dài và lạnh hơn, có nơi có sương muối và băng giá vào những đợt rét mạnh. Rau họ cải, cải mèo, su su, đậu Hà Lan, khoai tây, cà rốt lớn tốt trong phần lớn năm, trong khi rau muống, mồng tơi, mướp chỉ trồng được vào vài tháng nóng nhất. Vì vậy lịch của vườn vùng cao gần như ngược với đồng bằng: rau ôn đới là chính, rau nhiệt đới là phụ.
Sương muối thường xuất hiện vào những đêm trời quang, lặng gió sau đợt rét. Đêm có nguy cơ, nhiều nhà che luống bằng ni lông, bao tải hoặc rơm và gỡ ra khi mặt trời lên; tưới nước lên lá vào sáng sớm trước khi nắng chiếu cũng giúp lá tan sương muối từ từ, bớt cháy lá. Đất dốc cần làm luống theo đường đồng mức để mưa không cuốn trôi lớp đất mặt.
Vùng trung du đất đồi thường chua, nghèo mùn, dễ khô. Bón phân chuồng hoai, phủ rơm dày, rải thêm tro bếp hoặc vôi bột vào luống khi đất quá chua, theo lượng vừa phải và cách ngày trồng ít nhất hai tuần, sẽ giúp rau lên đều hơn nhiều so với chỉ tưới nước.
Làm đất và bón phân khi chuyển từ vụ này sang vụ khác
Mỗi lần chuyển vụ là một lần trả lại cho đất những gì rau vừa lấy đi. Sau khi thu dọn rau hè, nhổ sạch gốc bệnh, cuốc lật đất phơi vài ngày nắng, rồi trộn phân chuồng đã ủ hoai hoặc phân ủ từ lá, rơm, rác bếp vào lớp đất mặt. Phân chuồng tươi chưa hoai không bón thẳng cho rau, nhất là rau ăn sống, vì vừa nóng rễ vừa mang mầm bệnh đường ruột và trứng giun sán.
Vụ đông với bắp cải, su hào, súp lơ là vụ ăn phân nhiều nhất, nên bón lót kỹ ngay từ đầu. Vụ xuân cho bầu bí, dưa, đậu thì bón lót vào hốc trồng, đến lúc cây ra hoa thì bón thúc thêm ít phân hoai quanh gốc. Vụ hè rau ăn lá lớn nhanh, cần phân ít mà đều: mỗi lứa cắt xong tưới một lượt nước phân ủ pha loãng hoặc rải mỏng phân hoai rồi phủ rơm.
Đậu đũa, đậu cô ve, đậu Hà Lan có nốt sần ở rễ giữ được đạm từ không khí; khi nhổ đậu, cắt thân ở sát gốc và để rễ lại trong đất. Xếp luống đậu trước luống rau ăn lá trong vòng luân canh là cách bồi đất rẻ nhất mà vườn nhà làm được. Tro bếp có kali và tính kiềm, rải mỏng quanh gốc cà, ớt, bầu bí được, nhưng không rải dày và không trộn chung với phân chuồng tươi.
Câu hỏi thường gặp
Có nên gieo rau theo tiết khí như ông bà xưa không?
Tiết khí như lập thu, sương giáng, lập đông, kinh trập bám theo vị trí mặt trời nên khớp khá tốt với nhịp nóng lạnh ở miền Bắc, dùng làm mốc nhắc việc được. Nhưng vẫn phải nhìn thời tiết thực tế từng năm, vì có năm rét về sớm hoặc nắng kéo dài.
Su hào, bắp cải trồng tháng mấy thì cuộn, lên củ đẹp?
Ở đồng bằng Bắc Bộ, trồng cây con vào tháng chín và tháng mười thường cho củ, bắp đẹp nhất vì giai đoạn lớn rơi đúng lúc trời mát. Trồng quá sớm khi còn nóng thì cây hay sâu, bắp lỏng; trồng quá muộn thì gặp rét đậm, cây lớn chậm.
Mùa hè miền Bắc có trồng được xà lách không?
Khó. Xà lách gặp nóng dễ vống, ra ngồng, lá đắng. Nếu muốn, chọn giống chịu nhiệt, gieo dưới lưới che, tưới mát đều và hái non. Nhiều nhà thay xà lách mùa hè bằng rau muống non, rau lang non, mồng tơi non để ăn sống chần qua.
Rét đậm có cần tưới nước ấm cho rau không?
Không cần đun nước nóng. Chỉ nên tưới vào khoảng giữa trưa khi đất đã ấm lên, tưới vừa đủ ẩm, tránh để đất sũng nước qua đêm lạnh. Phủ rơm gốc và che ni lông ban đêm có tác dụng giữ ấm hơn là chú ý tới nhiệt độ nước tưới.
Mùa nồm có nên phun thuốc phòng nấm cho rau không?
Ưu tiên biện pháp thoáng: trồng thưa, tỉa lá già, tưới gốc, nhổ cây bệnh. Nếu bệnh lan mạnh và phải dùng thuốc thì chọn loại được phép cho rau, đọc kỹ nhãn, đúng liều, tuân thủ thời gian cách ly trước khi hái và cất thuốc xa tầm tay trẻ em.