Muốn có cá ăn đều từ một ao nhỏ, cách hiệu quả nhất là không tát cả ao một lần mà thu tỉa: mỗi tuần hoặc mỗi nửa tháng bắt vài con đã đủ lớn, để lại cá nhỏ tiếp tục lớn, rồi vài lần trong năm thả bù một lứa cá giống. Ao lúc nào cũng có cá ở nhiều cỡ, bữa cơm lúc nào cũng có cá để lấy, không phải ăn dồn hay chia cho hàng xóm cả mấy chục ký trong một ngày.
Cách làm này người nông thôn quen gọi là nuôi gối, thả gối. Nó hợp với gia đình tự ăn vì không cần năng suất cao nhất mà cần đều đặn. Bài này giúp tính xem nhà mình cần bao nhiêu cá, ao bao nhiêu thì đủ, bắt bằng gì cho đỡ khuấy ao, thả bù lúc nào và giữ cá tươi ra sao khi bắt nhiều hơn bữa ăn.
Tính ngược từ bữa cơm: nhà mình cần bao nhiêu cá
Bắt đầu từ thói quen ăn của gia đình chứ không từ cỡ ao. Ví dụ giả định: nhà bốn người, mỗi tuần muốn có hai bữa cá, mỗi bữa khoảng bảy tám lạng cá nguyên con. Một năm như vậy cần chừng bảy mươi đến tám mươi ký cá. Nếu nhà thích ăn cá hơn hoặc có ông bà ăn nhiều cá thay thịt, con số tăng lên; nếu cá chỉ là món thêm bên cạnh trứng và thịt, con số giảm.
Ao gia đình thả thưa, cho ăn chủ yếu bằng cỏ, rau, phụ phẩm, thường cho sản lượng thấp hơn nhiều so với ao nuôi thâm canh. Thay vì đặt mục tiêu năng suất, gia đình nên nghĩ theo hướng: ao này cho được khoảng bao nhiêu bữa, phần còn lại lấy ở đâu. Năm đầu thường chưa biết, nên ghi lại mỗi lần bắt được bao nhiêu con, nặng chừng nào. Sau một năm, cuốn sổ đó trả lời chính xác hơn mọi bảng tính.
Một lời khuyên thật: đừng thả thật dày để mong đủ cá cả năm. Ao nhỏ thả dày phải cho ăn nhiều cám, nước nhanh bẩn, cá dễ chết hàng loạt vào một buổi sáng oi bức. Mất một ao cá trong một đêm còn tệ hơn có ít cá mà ăn đều.
Thu tỉa: bắt cá lớn, để cá nhỏ lớn tiếp
Chọn cỡ bắt. Gia đình tự quyết cỡ ăn ngon: rô phi tầm ba bốn con một ký, trắm cỏ từ một ký trở lên, chép tầm nửa ký, cá rô đồng cỡ bàn tay. Cá dưới cỡ bắt được thả lại ngay xuống nước, thao tác nhẹ để không tróc vảy.
Bắt bằng gì. Với ao nhỏ, chài tay, vó, lờ, lồng bẫy đặt mồi là những dụng cụ ít khuấy ao. Câu cũng được, nhất là với trắm và chép. Kéo lưới cả ao chỉ nên làm vài lần một năm vì làm đục nước, cá sốc, dễ bị xây xát.
Giờ bắt. Sáng sớm hoặc chiều mát, khi nước dịu. Không bắt vào trưa nắng gắt hay lúc trời oi sắp mưa, khi ôxy trong nước đã thấp và cá yếu hơn.
Nhịp bắt. Bắt vừa đủ ăn trong một hai ngày. Với ao nhỏ, mỗi tuần một hai lần là đủ cho cá còn lại yên ổn. Nếu thấy cá trong ao dạn ăn, lớn đều, có thể bắt nhiều hơn; nếu thấy cá còi, chậm lớn, giảm nhịp bắt và giảm số cá nhỏ thả vào.
Ghi lại. Mỗi lần bắt ghi ngày, loài, số con, cân sơ bộ. Cuối năm cộng lại sẽ biết ao cho được bao nhiêu và loài nào hợp ao nhà mình nhất.
Lịch thả bù và thu tỉa theo mùa
Cá lớn nhanh trong mùa nóng, chậm lại khi trời lạnh. Lịch dưới đây là khung tham khảo cho miền Bắc và miền Nam; miền Trung và Tây Nguyên chỉnh theo mùa mưa, mùa rét của từng nơi.
| Thời điểm | Miền Bắc | Miền Nam | Việc chính |
|---|---|---|---|
| Đầu mùa ấm | Khoảng tháng 3–4, khi hết rét đậm | Đầu mùa mưa, khoảng tháng 5 | Thả lứa cá giống chính, cỡ đủ lớn để không bị cá dữ ăn |
| Giữa mùa nóng | Tháng 6–8 | Tháng 7–9 | Thu tỉa đều đặn, cho ăn thêm rau cỏ, theo dõi cá nổi đầu lúc rạng sáng |
| Cuối mùa nóng | Tháng 9–10 | Tháng 10–11 | Thả bù lứa thứ hai nếu ao còn thưa, cá đủ thời gian lớn trước mùa lạnh hoặc mùa khô |
| Mùa lạnh hoặc mùa khô | Tháng 11–2 | Tháng 12–4 | Bắt bớt cá lớn, giữ mực nước sâu, miền Bắc giữ cá rô phi qua rét; cuối mùa khô có thể tát ao, vét bùn |
Ở miền Bắc, rô phi rất sợ rét đậm; nhiều nhà chủ động bắt gần hết rô phi trước tháng Chạp, chỉ để lại trắm, chép, mè chịu lạnh tốt hơn. Ở miền Nam, mùa khô là lúc mực nước ao xuống thấp, nên bắt bớt cá để cá còn lại đủ nước.
Thả bù sao cho cá mới không thành mồi
Thả cá giống nhỏ vào ao đang có cá lớn, nhất là có cá lóc, cá trê, cá rô, thì nhiều cá nhỏ thành mồi. Cách tránh là thả cá giống đã đủ cỡ, thường cỡ ngón tay trở lên, hoặc ương riêng trong một góc ao quây lưới, một bể nhỏ, một thùng lớn vài tuần trước khi thả ra ao chính.
Cá giống nên lấy từ nơi uy tín trong vùng, khoẻ, bơi nhanh, không xây xát, không đốm trắng. Khi mang về, ngâm cả bao cá xuống ao chừng nửa giờ cho nhiệt độ trong bao và ngoài ao gần bằng nhau, rồi mới mở bao cho cá tự bơi ra. Thả vào sáng sớm hoặc chiều mát. Theo dõi vài ngày đầu xem có cá chết nổi không.
Với rô phi, cá đẻ trong ao rất nhiều. Ao đã có rô phi đẻ thì ít khi cần thả bù rô phi, ngược lại còn phải bắt bớt cá con để ao không đầy cá nhỏ còi cọc. Vì vậy nhiều nhà ưu tiên thả bù trắm, chép, mè, còn rô phi để ao tự lo, chỉ thỉnh thoảng dùng vó bắt bớt cá nhỏ làm mắm, rán giòn hoặc cho gà ăn sau khi nấu chín.
Cho ăn bằng những gì nông trang sẵn có
Một lợi thế của ao trong nông trang là thức ăn có sẵn quanh vườn: cỏ cắt, lá sắn, lá chuối non, rau muống già, bèo tấm, bèo dâu, rau thải sau khi nhặt, cơm thừa, cám gạo. Trắm cỏ ăn lá và cỏ; rô phi, chép ăn cám, rau băm nhỏ, mùn đáy; mè ăn tảo nên không cần cho ăn riêng.
Nguyên tắc là cho vừa đủ ăn hết trong khoảng một hai giờ. Cỏ, lá thừa nổi lâu trên mặt ao sẽ thối, làm nước đen và thiếu ôxy. Nên làm một khung tre nổi hình vuông ở một góc ao, thả cỏ lá vào trong khung để dễ theo dõi cá ăn hết chưa và vớt phần thừa.
Một số thứ không nên cho cá ăn: thức ăn đã mốc, thức ăn có dính thuốc bảo vệ thực vật, lá cây vừa phun thuốc, rau từ ruộng vừa phun thuốc chưa hết thời gian cách ly. Lá sắn tươi có chất có thể gây độc với cá khi cho ăn nhiều; nhiều nhà phơi héo hoặc chỉ cho một lượng nhỏ. Không cho cá ăn phân tươi của heo hay người: vừa làm bẩn ao, vừa mang mầm bệnh.
Giữ cá tươi khi bắt nhiều hơn bữa ăn
Có những lần kéo lưới, tát ao được nhiều cá hơn nhà ăn trong một hai ngày. Một số cách giữ cá an toàn:
- Nuôi tạm sống. Thả cá vào lồng lưới đặt trong ao, bể, thùng lớn có nước sạch, mỗi ngày bắt một ít. Cá rô, cá trê, cá lóc sống tạm khá lâu; rô phi, trắm cần nước rộng và mát hơn.
- Làm sạch và cấp đông. Đánh vảy, bỏ ruột, rửa sạch, chia phần đủ một bữa, cho vào túi kín rồi để ngăn đá. Ghi ngày lên túi để ăn trước cái cũ.
- Phơi khô một nắng. Chỉ làm khi trời nắng to, có lưới che ruồi, phơi trên giàn cao; cá một nắng vẫn phải giữ lạnh và ăn trong vài ngày. Cá có mùi lạ, nhớt, đổi màu thì bỏ.
- Biếu, đổi với hàng xóm. Đây là cách cũ mà vẫn tốt: cá đổi rau, đổi trứng, đổi công giúp.
Không làm mắm, cá chua, cá đóng hũ kín tại nhà khi chưa nắm rõ cách làm an toàn: cá là thực phẩm ít axit, đậy kín, ủ không đủ muối dễ sinh độc tố, trong đó có độc tố botulinum gây ngộ độc rất nặng. Hũ cá phồng nắp, sủi bọt bất thường, có mùi lạ phải bỏ, không nếm thử.
Ăn cá ao an toàn
Cá ao nhà nuôi bằng cỏ, rau, cám thì ngon và sạch hơn cá nuôi ở nơi không rõ nguồn nước, nhưng vẫn phải ăn chín. Ở Việt Nam, sán lá gan nhỏ đã được ghi nhận ở nhiều tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, miền Trung và Nam Bộ, lây chủ yếu qua thói quen ăn gỏi cá nước ngọt. Ao gia đình dù không còn cầu tiêu trên ao vẫn có thể có ấu trùng từ ốc và chim, nên không ăn gỏi, không làm cá sống trộn thính.
Khi làm cá, dùng thớt, dao riêng cho đồ sống; rửa tay sau khi làm; không để trẻ nhỏ cầm cá sống rồi đưa tay lên miệng. Ruột, mang cá có thể chôn ở gốc cây hoặc cho vào hố ủ phân, đậy kín để chó mèo không bới. Nếu thấy cá trong ao có biểu hiện lạ như lở loét, xuất huyết, bơi lờ đờ hàng loạt, không ăn những con đó, tìm hiểu nguyên nhân và hỏi cán bộ thú y, thủy sản ở xã.
Khi ao không đủ cá cho cả năm
Ao nhỏ có những tháng gần như không có gì để bắt: sau lần tát ao, sau mùa rét ở miền Bắc, hoặc lúc cá giống mới thả chưa đủ lớn. Đó là chuyện bình thường, không phải ao hỏng. Gia đình tự cung tự cấp lâu năm thường không đặt cược bữa đạm vào một nguồn duy nhất mà rải ra nhiều nguồn nhỏ chồng lên nhau.
Trứng gà là nguồn đều nhất, gần như tuần nào cũng có. Vịt, ngan cho thịt theo lứa. Đậu nành, đậu xanh, đậu phộng trồng trong vườn phơi khô để dành được cả năm. Cá đồng, ốc, tép ở mương, ruộng quanh xóm vào mùa nước cũng là nguồn mà nhiều nhà quê vẫn dựa vào. Phần còn lại mua ở chợ quê, không có gì phải ngại.
Cuốn sổ ghi chép mỗi lần bắt cá sẽ cho thấy rõ những tháng trống. Biết trước tháng nào ao vắng cá thì sắp xếp để đàn gà vào lứa đẻ, hoặc phơi sẵn cá khô, đậu khô từ trước. Ngược lại, tháng nào cá nhiều thì bớt mổ gà, bớt mua thịt. Ao cá lúc đó không còn là một công trình riêng mà là một mắt xích trong lịch ăn của cả nhà.
Câu hỏi thường gặp
Ao một trăm mét vuông cho được khoảng bao nhiêu cá một năm?
Tuỳ cách nuôi, loài cá, độ màu mỡ của ao và mùa trong năm, nên không có con số chung. Ao gia đình thả thưa, cho ăn bằng phụ phẩm thường cho ít hơn ao nuôi cám công nghiệp. Cách chắc nhất là ghi chép mỗi lần bắt trong năm đầu rồi điều chỉnh mật độ thả cho năm sau.
Thu tỉa có làm cá còn lại bị sốc không?
Bắt bằng chài, vó, lờ, câu thì cá còn lại ít bị ảnh hưởng. Kéo lưới cả ao làm nước đục, cá xây xát và giật mình, nên chỉ làm vài lần trong năm, vào lúc mát. Sau mỗi lần kéo lưới, giảm cho ăn một hai ngày để cá ổn định lại.
Cá con rô phi đầy ao thì làm gì?
Đó là dấu hiệu ao có nhiều rô phi đẻ. Nên bắt bớt cá con thường xuyên bằng vó, giảm thả rô phi, thả kèm một ít cá ăn thịt như cá lóc nếu phù hợp để chúng ăn bớt cá con. Cá con bắt lên có thể rán giòn, kho, hoặc nấu chín cho gà ăn.
Có nên thả cá lóc vào ao gia đình đang nuôi cá khác không?
Cá lóc ăn cá nhỏ nên chỉ hợp khi ao có quá nhiều rô phi con. Thả vài con giúp cân bằng, thả nhiều thì cá giống thả bù sẽ bị ăn. Nếu thả cá lóc, cá giống của các loài khác phải đủ lớn hoặc ương riêng trước khi thả ra ao chung.
Tát ao toàn bộ bao lâu một lần?
Nhiều gia đình tát ao một lần mỗi năm hoặc mỗi hai năm vào cuối mùa khô để thu hết cá, vét bớt bùn và phơi đáy ao. Việc này giúp ao sạch hơn, bớt cá tạp. Nếu ao vẫn trong, cá vẫn lớn đều thì có thể giãn ra lâu hơn, chỉ cần vét bùn cục bộ.
Cá ao có cần kiểm tra trước khi ăn không?
Cá khoẻ, bơi nhanh, mắt trong, mang đỏ, không lở loét thì ăn được sau khi nấu chín kỹ. Không ăn cá chết không rõ lý do, cá có vết lở, cá trong ao vừa bị đổ thuốc hay nước lạ vào. Không ăn gỏi cá nước ngọt vì nguy cơ sán lá gan.