Thả vài con vịt xuống ao cá gia đình được, và có lợi: vịt ăn ốc, côn trùng, bèo, phân vịt bón cho nước ao lên màu; nhưng chỉ khi số vịt ít so với diện tích ao, cá trong ao đã lớn hơn miệng vịt, và vịt chỉ xuống ao vài giờ mỗi ngày rồi về chuồng khô. Thả quá nhiều vịt hoặc để vịt ở ao cả ngày là cách nhanh nhất để ao đục ngầu, thiếu ôxy về sáng, cá nổi đầu, bờ ao sụt.
Mô hình vịt cá kết hợp đã có từ lâu ở nông thôn Việt Nam, nhưng phần lớn hướng dẫn nói về ao lớn nuôi bán. Bài này dành cho ao gia đình vài chục tới vài trăm mét vuông, đàn vịt vài con đến mười mấy con, mục đích là nhà có thêm trứng, thịt và một vườn ít ốc hơn.
Vịt làm gì cho ao, và làm hại ao thế nào
Mỗi lợi ích của vịt với ao đều có mặt trái khi quá liều. Bảng dưới đặt hai phía cạnh nhau:
| Việc vịt làm | Lợi khi vừa phải | Hại khi quá nhiều |
|---|---|---|
| Thải phân xuống nước | Bón cho tảo, sinh vật phù du, nước lên màu xanh nõn chuối, cá ăn lọc như mè được thêm thức ăn | Nước xanh đặc, tảo nở hoa rồi tàn, thiếu ôxy về đêm và sáng sớm |
| Ăn ốc, côn trùng, ấu trùng | Giảm ốc bươu vàng, ốc sên quanh bờ và vườn | Vịt đói ăn luôn tôm, cá con, trứng cá |
| Sục mỏ, quẫy nước | Đảo nước mặt, thêm chút ôxy | Khuấy bùn đáy, nước đục, cá ăn kém |
| Lên xuống bờ | Dọn cỏ mép bờ | Bờ ao lở, sụt, thành bãi bùn trơn |
| Ăn bèo, rau nước | Giữ mặt ao không bị bèo phủ kín | Ăn sạch rau nước nơi cá nhỏ trú |
Câu hỏi đúng không phải là có nên thả vịt hay không, mà là thả bao nhiêu, bao lâu và vào lúc nào. Với ao gia đình, số vịt ít và thời gian ngắn gần như luôn tốt hơn số vịt nhiều.
Bao nhiêu con vịt là vừa với ao nhà
Không có con số chung cho mọi ao, vì nó phụ thuộc độ sâu, nguồn nước thay, số cá và thời gian vịt ở dưới nước. Các mô hình vịt cá ở nông hộ thường tính mật độ vịt theo diện tích mặt nước, và ao gia đình nên ở mức thấp hơn mô hình nuôi bán.
Ví dụ giả định: một ao khoảng hai trăm mét vuông, sâu trên một mét, thả cá cho nhà ăn, thì năm đến mười con vịt xuống ao vài giờ mỗi ngày thường không gây vấn đề rõ. Cùng ao ấy mà hai ba chục con vịt ở cả ngày thì chỉ sau vài tuần nước sẽ đặc, có mùi, bờ ao lầy.
Cách tự điều chỉnh tốt nhất là nhìn nước. Nước ao màu xanh nõn chuối hoặc xanh vỏ đỗ, nhìn xuống thấy được khoảng hai ba gang tay là ổn. Nước nâu đục bùn là vịt khuấy đáy nhiều quá. Nước xanh đặc như sơn, có váng, cá nổi đầu lúc rạng sáng là ao thừa chất, phải giảm vịt và thay bớt nước ngay.
Ao có nguồn nước mương, nước mưa chảy vào thay đều chịu vịt tốt hơn ao tù. Ao đã có nhiều cá, cho cá ăn nhiều, thì bản thân nó đã giàu chất, nên thêm vịt phải ít hơn.
Khi nào cho vịt xuống và khi nào phải rút lên
Cá phải lớn hơn miệng vịt. Vịt ăn cá giống, cá con, tôm tép. Ao vừa thả cá giống thì chưa cho vịt xuống, đợi cá lớn cỡ hai ba ngón tay trở lên. Ao có cá tự đẻ như rô phi thì vịt sẽ ăn bớt cá bột, đôi khi lại có ích vì ao đỡ quá đông cá nhỏ.
Vịt xuống ao ban ngày, về chuồng ban đêm. Ban đêm vịt ở chuồng khô kín, vừa an toàn trước chồn rắn, vừa không thải phân xuống ao vào giờ ao đã thiếu ôxy nhất.
Rút vịt khi trời oi nồm hoặc trước mưa giông. Những ngày nóng nặng, ít gió, trời âm u, ôxy trong ao vốn đã thấp; thêm phân vịt và bùn khuấy dễ làm cá nổi đầu. Giữ vịt trên sân những ngày ấy.
Rút vịt khi tát ao, phơi ao. Ao cạn nước thì bùn đáy lộ ra, vịt sục bùn ăn sinh vật đáy, có lợi cho việc làm sạch ao nhưng cần xong trước khi lấy nước mới và thả cá.
Rút vịt khi có dịch. Khi trong vùng có thông báo dịch cúm gia cầm, nhốt vịt trong chuồng, không cho xuống ao chung với chim trời và gia cầm nhà khác.
Một ngày của đàn vịt quanh ao nhà: ví dụ nhịp làm
Ví dụ giả định cho đàn tám vịt mái và một ao khoảng hai trăm mét vuông có cá đã lớn. Mỗi nhà điều chỉnh theo ao và mùa:
- Rạng sáng: vịt vẫn trong chuồng. Vịt đẻ chủ yếu lúc này, trứng nằm trong ổ thay vì rơi ở bờ ao.
- Khoảng giữa buổi sáng: nhặt trứng, cho vịt ăn một bữa nhỏ thóc hoặc cám trộn rau, rồi mở cửa cho vịt ra ao. Bữa nhỏ để vịt không quá đói mà lùng cá con.
- Buổi sáng: vịt bơi, kiếm ốc, côn trùng, bèo dọc bờ. Người nuôi nhìn qua mặt nước vài lần xem màu nước, cá có nổi đầu không.
- Trưa nắng gắt: vịt thường tự lên nằm dưới bóng cây ven bờ. Có thể lùa vào sân để ao nghỉ.
- Chiều: cho vịt ra vườn đã thu hoạch nhặt ốc sên khoảng một giờ nếu đất khô, rồi lùa về chuồng trước chạng vạng, cho ăn bữa chiều trong chuồng để vịt quen tự về.
- Tối: đóng cửa chuồng, đếm đủ con, kiểm máng nước, ghi số trứng trong ngày vào sổ.
Với nhịp này, vịt ở dưới ao khoảng ba đến năm giờ mỗi ngày. Những ngày oi nồm, nước ao xanh đặc hoặc có tin dịch thì bỏ bước ra ao, giữ vịt trên sân với chậu nước riêng.
Bờ ao và lối lên xuống cho vịt
Vịt lên xuống ao nhiều lần mỗi ngày, luôn qua cùng một chỗ. Chỗ đó nhanh chóng thành một rãnh bùn trơn, bờ lở dần, đất trôi xuống làm nông ao. Ao gia đình bờ thấp, đất pha cát càng dễ bị.
Cách làm hay gặp là dành cho vịt một lối riêng: một tấm ván có nẹp ngang chống trượt, hoặc vài bậc lát gạch, đá, tre ở một góc bờ, và rào lưới thấp phần bờ còn lại để vịt không trèo lung tung. Trồng cỏ có rễ chùm hoặc cây bụi thấp dọc bờ giúp giữ đất; tránh những cây có độc rụng lá xuống ao.
Lối lên xuống của vịt cũng nên ở phía xa chỗ trẻ con hay ra chơi và xa giếng nước. Ao nhà có vịt thì mép ao trơn hơn bình thường, nhà có trẻ nhỏ càng cần rào kín quanh ao, cửa rào có chốt cao, và quy ước trẻ không ra ao một mình. Đây là việc của mọi ao gia đình, có vịt hay không.
Phân vịt, nước ao và vườn rau
Nước ao có vịt giàu chất dinh dưỡng hơn ao thường, và đó là nguồn tưới tốt cho cây ăn trái, bầu bí, ngô, khoai. Bùn ao vét lên cuối mùa cũng là phân tốt cho gốc cây lâu năm sau khi phơi và ủ.
Nhưng nước ao có phân vịt cũng có thể mang vi khuẩn đường ruột. Nguyên tắc an toàn giống như với phân chuồng: không tưới nước ao trực tiếp lên lá rau ăn sống sắp thu hoạch, tưới gốc thay vì tưới lá, và rửa rau kỹ. Rau thơm, xà lách nên tưới bằng nước giếng hoặc nước mưa sạch nếu có.
Chuồng vịt nên làm sát ao nhưng trên nền cao, có rãnh để nước rửa chuồng chảy vào một hố lắng hoặc ra gốc cây, không đổ thẳng xuống ao. Rơm lót chuồng vịt thay ra mang vào đống ủ. Như vậy phân vịt vào ao chỉ trong vài giờ vịt bơi, phần lớn còn lại về vườn qua đống ủ.
Cách chia này cũng giúp nhà chủ động lượng chất vào ao. Mùa ao xanh nhạt, cá chậm lớn thì cho vịt ở ao lâu hơn một chút; mùa ao đã đậm màu thì rút bớt giờ, phân về vườn nhiều hơn. Ao và vườn được nuôi bằng cùng một nguồn, chỉ khác liều lượng.
Vịt nào hợp ao gia đình và những điều cần biết
Một vài lưu ý khi chọn và giữ vịt cho ao nhà:
- Vịt cỏ, vịt bầu nhỏ con kiếm ăn giỏi, hợp thả ao và vườn. Vịt siêu thịt to nặng, ít kiếm ăn, phá bờ nhiều hơn, không hợp ao nhỏ.
- Vịt mái kêu to và nhiều, nhất là buổi sáng; nhà sát vách hàng xóm nên cân nhắc, hoặc chọn ngan thay vịt.
- Vịt đẻ trứng chủ yếu lúc rạng sáng, hay đẻ rơi ở bờ ao nếu thả quá sớm. Giữ vịt trong chuồng tới khoảng giữa buổi sáng mới mở, trứng sẽ nằm trong ổ.
- Vịt cần nước để nhúng đầu khi ăn; ở chuồng vẫn phải có máng nước sâu, nhưng máng đặt trên nền sỏi để chuồng không lầy.
- Vịt có thể mang virus cúm gia cầm mà trông vẫn khoẻ. Ao có nhiều chim trời đến uống nước là nơi dễ lây; rửa tay, dép riêng khi xuống chuồng vịt, và báo thú y xã khi vịt, gà chết bất thường.
Nhà chưa có ao nhưng muốn nuôi vịt thì vẫn nuôi khô được với chuồng, sân và máng nước sâu; đó là chủ đề kỹ thuật riêng. Ở đây chỉ khuyên: đừng đào ao chỉ vì muốn nuôi vịt.
Khi ao đã có vấn đề: đọc dấu hiệu và sửa
Cá nổi đầu đớp khí lúc rạng sáng là dấu hiệu khẩn. Việc đầu tiên là rút hết vịt lên, ngưng cho cá ăn trong ngày, bơm hoặc dẫn nước mới vào nếu có nguồn sạch, dùng sào khuấy mặt nước hoặc quạt nước nếu có. Sau đó tính lại số vịt và giờ thả. Những ao không có nguồn nước mới để thay thì càng phải giữ số vịt thấp ngay từ đầu, vì khi có chuyện không có cách gì pha loãng nhanh.
Nước đục bùn kéo dài mà cá vẫn khoẻ thì giảm giờ vịt xuống ao, để vịt nghỉ ao vài tuần. Bờ ao lở thì làm lối lên xuống cố định và rào phần còn lại. Ốc bươu vàng vẫn nhiều dù có vịt thì nhặt tay thêm, đập ốc cho vịt ăn ở sân, vì vịt nhỏ khó ăn ốc lớn.
Nếu cá chết rải rác, có vết loét, hoặc vịt bỏ ăn, ủ rũ, chết bất thường, đừng tự kết luận. Ngưng cho vịt xuống ao, không vớt cá chết cho gà vịt ăn, chôn sâu xa nguồn nước, và hỏi cán bộ thú y hoặc khuyến nông của xã.
Câu hỏi thường gặp
Vịt có ăn cá trong ao không?
Có. Vịt ăn cá bột, cá giống nhỏ và tôm tép. Cá đã lớn hơn cỡ hai ba ngón tay thì vịt khó bắt. Vì thế chỉ cho vịt xuống ao khi cá thả đã lớn, và nên có chỗ cây thuỷ sinh, cành tre thả ven bờ để cá nhỏ tự đẻ có chỗ trú.
Phân vịt có làm chết cá không?
Lượng phân vừa phải bón cho tảo và sinh vật phù du, cá ăn lọc được lợi. Phân quá nhiều làm nước giàu chất, tảo phát triển rồi tàn, ôxy hoà tan tụt về đêm và rạng sáng, cá có thể nổi đầu và chết. Điều quyết định là số vịt và thời gian vịt ở ao.
Ao nhỏ mấy chục mét vuông có thả vịt được không?
Ao rất nhỏ ít nước nên chịu phân kém. Có thể cho hai ba con vịt xuống tắm một hai giờ mỗi ngày, rồi về chuồng. Nếu ao chủ yếu để trữ nước tưới hoặc nuôi cá cho nhà, nhiều người chọn không thả vịt, chỉ dùng chậu nước riêng trên sân.
Vịt ăn ốc bươu vàng có an toàn không?
Vịt ăn ốc bươu vàng nhỏ khá giỏi và đây là cách nhiều nhà giảm ốc trong ruộng, ao. Ốc lớn nên đập vỡ vỏ. Không cho vịt ăn ốc nhặt ở ruộng vừa phun thuốc diệt ốc hay thuốc bảo vệ thực vật. Người không ăn ốc bươu vàng sống vì có thể mang ấu trùng giun ký sinh.
Có nên nuôi vịt và gà chung chuồng không?
Không nên chung ổ. Vịt thải phân nhão và làm ướt nền, gà cần nền khô; nền ẩm làm gà dễ mắc bệnh cầu trùng, bệnh đường hô hấp. Hai loài có thể chung sân ban ngày, nhưng chuồng ngủ nên chia ngăn, máng nước riêng.
Nước ao có vịt tưới rau được không?
Tưới gốc cây ăn trái, bầu bí, ngô, khoai thì tốt. Với rau ăn sống sắp thu hoạch, không nên tưới nước ao có phân vịt lên lá, vì có thể mang vi khuẩn đường ruột. Dùng nước giếng hoặc nước mưa cho những luống đó và rửa rau kỹ trước khi ăn.