Nông trang gia đình ở miền Bắc phải tính mùa đông lạnh (vụ rau đông là mùa rau chính, rét đậm làm rau chậm và gà đẻ thưa); ở duyên hải miền Trung phải tính bão, lũ và nắng gió mùa hè; ở Nam Bộ và Tây Nguyên phải tính mùa khô kéo dài, và riêng đồng bằng sông Cửu Long còn có ngập và xâm nhập mặn. Cùng một mảnh đất 800 m², cách bắt đầu ở ba vùng khác nhau ở thời điểm khởi động, loại rau chủ lực và thứ cần làm trước tiên.
Phần dưới không thay cho lịch thời vụ chi tiết của từng tỉnh mà đưa ra khung chung để chọn tháng bắt đầu, việc ưu tiên năm đầu và những rủi ro chính ở mỗi vùng. Người trong xóm và cán bộ khuyến nông địa phương vẫn là nguồn chính xác nhất cho mảnh đất của bạn.
Vì sao không thể dùng chung một lịch
Việt Nam trải dài hơn một nghìn ki-lô-mét theo chiều Bắc – Nam, cộng với núi cao và đồng bằng, nên khí hậu khác nhau rõ rệt. Phía Bắc có mùa đông lạnh do gió mùa Đông Bắc; dải duyên hải miền Trung mưa nhiều vào cuối năm, bão tập trung nửa sau năm; phía Nam gần như nóng quanh năm, chia thành mùa mưa và mùa khô.
Với một vườn rau gia đình, những khác biệt ấy quyết định ba điều. Thứ nhất, tháng nào dễ trồng nhất để bắt đầu: bắt đầu đúng tháng thuận lợi thì lứa rau đầu dễ thành công, giữ được hứng khởi. Thứ hai, thứ gì cần làm trước hết: ở nơi này là chuồng gà kín gió, nơi kia là bể nước, nơi khác là luống cao. Thứ ba, khoảng thời gian khó nhất trong năm mà nông trang phải được chuẩn bị để đi qua.
Một sai lầm hay gặp là mang kinh nghiệm từ vùng này sang vùng khác. Người miền Bắc vào Nam lập vườn thường đợi "vụ đông" để trồng rau, trong khi ở Nam Bộ mùa khô mới là mùa rau thuận nếu đủ nước. Người miền Nam ra Bắc lại hay gieo rau nhiệt đới đúng tháng rét, rau đứng im cả tháng.
Khung so sánh ba vùng
Bảng dưới là khung khái quát; trong mỗi vùng còn khác nhau giữa đồng bằng, trung du và núi cao, giữa ven biển và nội địa. Hãy dùng như điểm xuất phát rồi điều chỉnh theo kinh nghiệm địa phương.
| Miền Bắc | Duyên hải miền Trung | Nam Bộ và Tây Nguyên | |
|---|---|---|---|
| Thời điểm khó nhất | Rét đậm, rét hại tháng 12 đến tháng 2; nồm ẩm đầu xuân | Bão, lũ thường từ khoảng tháng 9 đến tháng 12; nắng nóng, gió khô mùa hè ở một số nơi | Cuối mùa khô (khoảng tháng 2 đến tháng 4); ngập, mặn ở đồng bằng sông Cửu Long |
| Mùa rau thuận nhất | Vụ đông, khoảng tháng 9 đến tháng 2 | Sau mùa mưa bão, đầu năm đến đầu hè | Đầu và giữa mùa khô nếu có nước tưới |
| Việc ưu tiên năm đầu | Chuồng gà kín gió, luống thoát nước, che rét cho rau | Giàn, chuồng chắc, cây chắn gió, nâng nền chỗ thấp | Bể chứa nước, phủ đất, luống cao chỗ ngập |
| Rau chủ lực | Cải các loại, su hào, bắp cải, xà lách, cà rốt mùa đông; rau muống, mồng tơi, mướp mùa hè | Rau muống, mồng tơi, cải, rau thơm, bầu bí, đậu; chọn loại chịu nắng gió | Rau muống, rau dền, mồng tơi, cải, bầu bí, đậu, rau thơm quanh năm; rau ôn đới ở cao nguyên |
| Gà và vịt | Giữ ấm gà con mùa rét, chuồng tránh gió lùa | Chuồng nền cao, mái chắc, chuẩn bị trước mùa bão | Chống nóng chuồng, nước uống mát; vịt hợp vùng sông nước |
Cao nguyên như Lâm Đồng có khí hậu mát quanh năm, trồng được nhiều rau ôn đới, nhưng sương muối, mưa dài ngày và đất dốc đặt ra những bài toán riêng. Vùng núi phía Bắc thì rét sâu hơn đồng bằng, có nơi có băng giá.
Miền Bắc: bắt đầu vào cuối mùa mưa
Ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ, thời điểm dễ bắt đầu nhất là khoảng cuối tháng 8 đến tháng 10, khi mưa lớn đã giảm và trời dịu. Lúc này gieo được cả một loạt rau vụ đông dễ trồng như cải ngọt, cải bẹ, rau mùi, xà lách, su hào; lứa đầu thường thuận.
Năm đầu nên ưu tiên chuồng gà kín gió phía Bắc, có rèm che, nền khô, vì gió mùa Đông Bắc và những đợt rét đậm làm gà dễ ốm, đẻ thưa. Rau có thể che bằng vòm nilon thấp hoặc phủ rơm gốc những đêm rét hại; tránh tưới vào chiều tối những ngày lạnh.
Đầu xuân có nồm ẩm: nấm bệnh trên rau phát triển nhanh, chuồng gà dễ ướt. Giữ khoảng cách cây thưa vừa phải, dọn lá bệnh, độn chuồng khô thường xuyên. Sang hè, rau ăn lá chuyển sang rau muống, mồng tơi, rau dền, mướp, bầu chịu nóng; mưa to tháng 7, 8 thì luống phải có rãnh thoát.
Vùng núi phía Bắc lạnh hơn, mùa sinh trưởng ngắn hơn, có nơi sương muối. Ở đó nên hỏi người địa phương về những tuần nên tránh gieo và các giống rau bản địa chịu rét.
Duyên hải miền Trung: chuẩn bị cho mùa bão từ đầu
Dải đất từ Thanh Hoá đến các tỉnh Nam Trung Bộ có mùa mưa lệch về cuối năm, và bão, áp thấp nhiệt đới thường tập trung vào khoảng tháng 9 đến tháng 12 tuỳ đoạn bờ biển. Mùa hè ở một số nơi có gió khô nóng thổi từ phía Tây, đất nhanh mất ẩm.
Thời điểm bắt đầu thuận lợi thường là sau mùa mưa bão, khoảng đầu năm, khi đất đã ráo và trời mát. Vụ rau đầu năm đến đầu hè thường là vụ dễ nhất. Nếu bắt đầu giữa năm, hãy ưu tiên những thứ không sợ gió như rau thấp, rau lâu năm, và chuẩn bị sẵn kế hoạch cho mùa bão.
Việc làm trước tiên ở vùng này là dựng mọi thứ cho chắc: chuồng gà nền cao, mái buộc chặt, cột chôn sâu; giàn leo có dây chằng; cây chắn gió quanh vườn. Trước mỗi cơn bão, thu hoạch những gì có thể, hạ giàn thấp, đưa gà vào chỗ an toàn, kiểm tra cây gần nhà có thể đổ. Sau bão lũ, không dùng rau ngập nước bẩn để ăn sống, rửa và khử trùng chuồng, theo dõi gà vịt vì dịch bệnh dễ phát sinh.
Vùng ven biển cát trắng, cát pha nghèo dinh dưỡng, giữ nước kém. Nông trang ở đây cần nhiều phân ủ, phủ đất dày, hàng rào chắn cát bay và nguồn nước ngọt chắc chắn cho mùa khô.
Nam Bộ và Tây Nguyên: nước là chuyện đầu tiên
Phía Nam nóng gần quanh năm, rau nhiệt đới trồng được hầu như mọi tháng; giới hạn chính là nước. Mùa khô thường kéo dài vài tháng, cuối mùa khô đất nứt nẻ, giếng có thể cạn. Vì vậy ở Đông Nam Bộ và Tây Nguyên, việc đầu tiên của nông trang gia đình thường là bể chứa, lu nước mưa, ao hoặc giếng đủ dùng, cùng với phủ đất kín.
Ở đồng bằng sông Cửu Long, bài toán có hai mặt: mùa nước nổi và mưa lớn làm vườn trũng ngập, mùa khô thì nhiều nơi nước kênh, nước giếng bị xâm nhập mặn. Kiểu vườn truyền thống của vùng này là lên liếp cao xen mương nước, vừa thoát úng vừa trữ nước, có thể nuôi cá trong mương. Gia đình mới lập vườn nên học theo cách làm liếp của người địa phương, trữ nước ngọt trong lu, bể trước mùa mặn, và theo dõi thông báo độ mặn của địa phương khi lấy nước tưới.
Thời điểm bắt đầu thuận ở Nam Bộ thường là đầu mùa khô, khi mưa đã ngớt nhưng đất còn ẩm, nếu chắc có nước tưới; hoặc đầu mùa mưa với những rau chịu mưa như rau muống, mồng tơi, bầu bí, khoai. Giữa mùa mưa nên dùng luống cao, giàn có mái che mưa cho rau ăn lá non.
Tây Nguyên có mùa khô rõ và đất đỏ ba-dan dốc dễ xói mòn khi mưa. Luống nên chạy ngang dốc, trồng cỏ, cây che phủ trên bờ. Riêng vùng cao nguyên mát như quanh Đà Lạt (Lâm Đồng) trồng được bắp cải, cà rốt, súp lơ gần quanh năm, nhưng cần chú ý sương muối và mưa dầm.
Ví dụ giả định: ba gia đình chọn tháng bắt đầu
Một nhà ở đồng bằng sông Hồng về quê vào tháng 6. Thay vì gieo ngay rau cải giữa mùa mưa nóng, họ dùng ba tháng hè để phát cỏ, làm luống có rãnh thoát, dựng chuồng gà kín phía Bắc, trồng vài luống rau muống, mồng tơi. Cuối tháng 8 mới gieo loạt rau vụ đông đầu tiên; đó là lứa họ thấy thành công rõ nhất năm đầu.
Một nhà ở ven biển Nam Trung Bộ nhận đất vào tháng 8. Biết mùa mưa bão sắp tới, họ chưa làm giàn cao, chỉ trồng rau thấp, sả, rau ngót, dựng chuồng gà nền cao và trồng hàng phi lao, dâm bụt chắn gió. Sau mùa bão, khoảng tháng 1, họ mở thêm luống và giàn bầu bí.
Một nhà ở Đông Nam Bộ bắt đầu vào tháng 12. Đầu mùa khô, đất còn ẩm, họ gieo rau ngay nhưng việc lớn nhất là làm bể chứa và phủ rơm kín luống trước khi nắng gắt. Tới cuối mùa khô, bể nước và lớp phủ là thứ giữ cho vườn còn rau khi nhiều vườn quanh đó đã khô.
Những điều giống nhau ở mọi vùng
Dù ở đâu, có vài nguyên tắc không thay đổi, và nắm chúng giúp chuyển vùng không bị bỡ ngỡ.
- Bắt đầu vào mùa thuận nhất của vùng mình, để lứa đầu thành công và giữ được hứng khởi.
- Năm đầu luôn chỉ làm nhỏ: rau gần bếp, vài con gà, nguồn nước chắc.
- Giống rau và cây ăn trái địa phương thường chịu đất, chịu thời tiết tốt hơn giống mang từ nơi khác về; tự để giống từ những cây tốt nhất trong vườn.
- Phủ đất và phân ủ có ích ở mọi vùng: giữ ấm đất mùa rét, giữ ẩm mùa khô, giảm xói mòn mùa mưa.
- Gia cầm ở vùng nào cũng cần chuồng khô, an toàn sinh học, tiêm phòng; dịch bệnh bất thường báo thú y xã.
- Học từ hàng xóm lâu năm: họ đã đi qua đúng những mùa mà bạn sắp đi qua.
Khi chuyển nhà từ vùng này sang vùng khác, hãy xem năm đầu ở nơi mới như năm học việc, dù đã có nhiều năm làm vườn ở chỗ cũ. Đất, nước, gió và sâu bệnh ở chỗ mới sẽ dạy những điều mà kinh nghiệm cũ không có.
Ghi lại vào sổ vườn ngày bắt đầu và kết thúc những đợt rét, nắng nóng, mưa bão, mặn của năm đầu. Sau hai ba năm, cuốn sổ ấy chính là lịch thời vụ riêng của nông trang nhà bạn.
Câu hỏi thường gặp
Ở miền Bắc có trồng rau được vào mùa hè không?
Được, nhưng chọn rau chịu nóng và mưa như rau muống, mồng tơi, rau dền, rau ngót, mướp, bầu, đậu đũa. Rau ôn đới như bắp cải, su hào, xà lách trồng mùa hè ở đồng bằng thường kém. Mưa to mùa hè đòi luống có rãnh thoát nước tốt.
Miền Trung mùa bão có nên nuôi gà không?
Nên nuôi, nhưng chuồng phải chắc, nền cao hơn mức ngập từng gặp và có kế hoạch di chuyển gà khi có bão lớn. Sau bão lũ, vệ sinh chuồng, theo dõi gà; gà chết bất thường thì báo thú y xã, không tự xử lý.
Ở vùng xâm nhập mặn có trồng rau được không?
Được nếu trữ đủ nước ngọt cho mùa khô và chọn rau phù hợp. Nhiều gia đình ở đồng bằng sông Cửu Long trữ nước mưa trong lu, bể, túi chứa lớn, tưới tiết kiệm bằng phủ đất, tưới gốc. Theo dõi thông báo độ mặn của địa phương trước khi lấy nước kênh tưới.
Chuyển từ Nam ra Bắc làm nông trang cần lưu ý gì nhất?
Mùa đông lạnh và nồm ẩm là khác biệt lớn nhất. Cần chuồng gà kín gió, che rét cho rau, chuyển trọng tâm vườn sang vụ đông, và chấp nhận vài tuần rét đậm vườn gần như đứng yên. Hỏi người địa phương về giống rau chịu rét.
Vùng cao nguyên có gì khác khi làm nông trang gia đình?
Cao nguyên mát nên trồng được nhiều rau ôn đới, nhưng đất dốc dễ xói mòn, mưa dầm dài ngày dễ sinh nấm bệnh, có nơi có sương muối. Luống nên chạy ngang dốc, phủ đất, có cây chắn gió; theo dõi dự báo sương muối để che rau kịp.