NongTrang.comNông Trang
Ao cá nhỏ và nước trong nông trang

Ao cá và nước cho nông trang gia đình: cá ăn, nước tưới, nước mưa và an toàn cho trẻ

Một ao nhỏ vài chục đến vài trăm mét vuông làm được gì cho nông trang gia đình: cá cho bữa cơm, nước tưới, bùn bón cây, cùng bể mưa, giếng và rào an toàn cho trẻ.

A woman casting a round net from the grassy bank of a small family fish pond, bamboo footbridge behind, morning mist, seen from behind

Với một nông trang gia đình, ao cá không chỉ để có cá. Một ao nhỏ chừng vài chục đến vài trăm mét vuông còn là kho nước tưới cho vườn rau mùa khô, chỗ nhận nước mưa tràn từ sân vườn, nơi lấy bùn bón cây sau mỗi lần vét, và là chỗ mát cho cả khu đất những tháng nóng. Nếu đất đủ rộng, nước không quá khó và trong nhà có người để mắt hằng ngày, ao là phần đáng làm sau vườn rau và đàn gà.

Nhưng nước trong nông trang không chỉ có ao. Một hệ nước gia đình dùng được lâu thường gồm bốn phần tách bạch: nước ăn uống (giếng hoặc nước máy), nước mưa trữ trong bể và lu, nước ao cho cá và tưới, và đường thoát cho nước thải từ chuồng, bếp, nhà vệ sinh. Bài này đi qua từng phần ở mức một gia đình tự làm để ăn: ao đặt ở đâu, nuôi cá gì cho đỡ công, nước ao dùng vào việc gì, và những điều bắt buộc phải làm để trẻ con an toàn quanh nước.

Ao nhỏ trong nông trang làm được những việc gì

Thử hình dung một mảnh đất khoảng một nghìn mét vuông ở quê, có nhà, vườn rau, chục con gà và một góc trũng hay đọng nước mỗi mùa mưa (ví dụ giả định). Góc trũng ấy nếu để nguyên thì thành chỗ muỗi đẻ, cỏ lác mọc; nếu đào sâu thêm, đắp bờ, nó thành ao chừng trăm mét vuông. Đất đào lên đắp thành luống cao cho rau; nước mưa từ sân, mái chảy dồn về ao; mùa khô có sẵn nước để tưới mà không phải bơm giếng nhiều.

Người nông thôn đồng bằng Bắc Bộ và Nam Bộ đã sống với kiểu bố trí này từ lâu: vườn – ao – chuồng nối vào nhau, ao nhận phần thừa của vườn và chuồng, vườn nhận nước và bùn của ao. Điều khác với ngày xưa là bây giờ ta biết rõ hơn về vệ sinh: phân người không đổ xuống ao, nước ao không dùng rửa rau ăn sống, cá không ăn gỏi. Giữ được mấy điều đó thì ao vẫn là phần rất có ích của một nông trang tự ăn.

Cũng cần nói thật: ao không phải bắt buộc. Đất hẹp, đất cát quá thấm nước, nhà có trẻ dưới năm tuổi mà không rào được, hoặc không ai ở nhà thường xuyên, thì một vài bể chứa nước mưa và hệ tưới tiết kiệm có khi đáng làm hơn. Cá có thể đổi bằng trứng gà, vịt, hoặc mua ở chợ quê. Không có ao, nông trang vẫn nuôi được bữa cơm; có ao mà không chăm thì ao thành gánh nặng.

Chọn chỗ và cỡ ao ở mức gia đình

Chọn chỗ thấp tự nhiên nhưng không ở cuối dòng nước bẩn. Ao nên ở nơi đất hơi trũng để hứng nước mưa, nhưng không đặt ngay dưới chuồng heo, hố phân hay nhà vệ sinh. Nước từ những chỗ đó chảy vào ao mang theo mầm bệnh và làm ao thối nhanh. Nếu khu đất nghiêng, đặt ao ở giữa dốc, chuồng trại ở thấp hơn hoặc lệch sang một bên.

Cách xa giếng nước ăn. Nước ao thấm qua đất có thể làm bẩn giếng đào nông. Giữ ao và giếng càng xa càng tốt, nhiều hướng dẫn vệ sinh nông thôn khuyên khoảng mười mét trở lên, đất cát và mực nước ngầm nông thì cần xa hơn.

Có nắng ít nhất nửa ngày. Ao bị cây to che kín thì nước lạnh, ít tảo, cá chậm lớn, lá rụng xuống mục làm thiếu ôxy. Trồng cây ăn trái ở phía bắc hoặc phía tây của ao để che bớt nắng chiều mà vẫn để mặt nước hứng nắng sáng.

Cỡ vừa với sức chăm. Ao gia đình thường trong khoảng vài chục đến vài trăm mét vuông. Ao khoảng một trăm mét vuông, sâu chừng một mét rưỡi đã cho được vài bữa cá mỗi tháng nếu chăm đều; ao rộng hơn tốn công vét, công đắp bờ và nhiều nước hơn để giữ mức nước mùa khô.

Sâu vừa đủ, bờ thoai thoải. Phần lớn ao gia đình sâu khoảng một mét rưỡi đến hai mét ở chỗ sâu nhất, có một đầu nông hơn. Mái bờ nên thoải để không sạt và để người hay trẻ lỡ trượt chân có chỗ bám lên. Ao rộng, bờ cao, đất yếu hay gần nhà người khác thì nên hỏi người có chuyên môn về đất và thủy lợi trước khi đào.

Cá nào hợp với ao của một nhà tự ăn

Mục tiêu của ao gia đình không phải năng suất cao mà là ít công, ít bệnh, ăn được đều. Vì vậy thường nuôi ghép vài loài ăn ở các tầng nước khác nhau, tận dụng cỏ, rau, phụ phẩm của vườn. Bảng dưới là cách nghĩ chung; kỹ thuật nuôi từng loài cần tìm hiểu riêng.

LoàiĂn gì là chínhHợp với ao gia đình ở chỗCần để ý
Cá rô phiTảo, mùn đáy, cám, rau bămDễ nuôi, lớn nhanh, chịu được nước hơi bẩnĐẻ dày làm ao đầy cá con nhỏ; sợ rét đậm ở miền Bắc
Cá trắm cỏCỏ, lá sắn, rau muống, bèoĂn chính phụ phẩm của vườnCho ăn thừa cỏ để thối thì hỏng nước
Cá mèTảo và sinh vật nổi trong nướcKhông phải cho ăn riêng, giúp nước bớt xanh đặcHay nhảy khi kéo lưới; nhiều xương dăm
Cá chépĂn đáy: giun, ấu trùng, cámThịt ngon, hợp ao có đáy bùnSục bùn làm nước đục nếu thả dày
Cá rô đồng, cá trêCôn trùng, cám, phụ phẩmChịu nước nông, thiếu ôxy tốt hơnCá trê phải chắn bờ, dễ bò đi khi mưa

Thả ít là chìa khoá với ao gia đình. Ao thả dày phải cho ăn nhiều, nước nhanh bẩn, cá dễ nổi đầu lúc rạng sáng. Ao thả thưa, cá ăn phần lớn thức ăn tự nhiên, nước ổn định hơn, công chăm ít hơn hẳn, và cá ngon hơn.

Nước ao tưới vườn, bùn ao bón cây

Nước ao có cá là nước có chất dinh dưỡng: phân cá, thức ăn thừa, tảo. Với cây ăn trái, cây gia vị trồng lâu năm, cây ăn quả trên giàn, đây là nguồn nước tưới tốt. Cách đơn giản nhất là đặt một bậc lấy nước ở bờ, múc bằng gàu hay thùng tưới, hoặc một máy bơm nhỏ đặt cách đáy để không hút bùn.

Điều cần nhớ là nước ao không sạch theo nghĩa vệ sinh. Rau ăn sống như xà lách, rau thơm, rau má không nên tưới nước ao lên lá trong những ngày sát thu hoạch; tưới vào gốc, hoặc dùng nước giếng, nước mưa cho các luống này. Nếu trong ao có thả vịt hoặc có nước từ chuồng chảy vào, nguy cơ vi khuẩn đường ruột càng cao.

Bùn ao là phần quý khác. Mỗi lần tát ao hay vét đáy, lớp bùn đen nhiều mùn đem phơi cho khô, bớt mùi, rồi trộn với đất trồng hoặc vun gốc cây ăn trái. Không nên đổ bùn tươi thẳng lên luống rau đang có cây con vì bùn còn thiếu ôxy và có thể làm thối rễ. Ao từng nhận nước thải lạ, nước từ xưởng hay ruộng phun thuốc nhiều thì không nên dùng bùn cho rau.

Bể, lu nước mưa và giếng: ba nguồn nước khác ao

Ao chỉ là một nguồn. Nông trang gia đình chạy ổn qua mùa khô thường có thêm hai nguồn nữa, mỗi nguồn dành cho một việc riêng:

  • Nước mưa từ mái nhà hứng qua máng xối vào bể xây, bồn nhựa hoặc lu sành. Nước này mềm, ít khoáng, tốt cho rau và cây con. Nếu dùng cho sinh hoạt, cần bỏ nước đầu trận, đậy kín, lọc và đun sôi trước khi uống.
  • Giếng đào hoặc giếng khoan là nguồn nước sinh hoạt ở nhiều vùng quê. Giếng cần nắp, thành giếng cao, sân giếng láng xi măng có rãnh thoát, cách xa chuồng và nhà vệ sinh. Ở một số vùng đã ghi nhận nước ngầm nhiễm asen, sắt, mangan hoặc mặn, nên xét nghiệm nước trước khi dùng để ăn uống lâu dài.
  • Nước máy, nếu có, nên giữ cho ăn uống và nấu nướng, không dùng làm nguồn tưới chính để tránh tốn và để giữ áp cho cả xóm mùa khô.
  • Nước ao dành cho cá, tưới cây lâu năm, tưới gốc rau, rửa chuồng, rửa dụng cụ làm vườn.

Tách được bốn nguồn này giúp gia đình tránh hai sai lầm hay gặp: dùng nước ao rửa rau ăn sống, và dùng hết nước giếng để tưới rồi mùa khô thiếu nước ăn.

Tưới tiết kiệm để ao và bể đủ nước qua mùa khô

Lượng nước của ao và bể nhà mình có hạn, nên cách tưới quyết định vườn sống qua được mùa khô hay không. Mấy việc đơn giản sau tiết kiệm được rất nhiều nước:

  1. Tưới vào gốc thay vì xối lên lá; nước trên lá phần lớn bay hơi và còn làm lá dễ bệnh.
  2. Tưới lúc sáng sớm hoặc chiều muộn, tránh trưa nắng.
  3. Phủ gốc bằng rơm, lá khô, cỏ cắt, vỏ trấu dày vài phân để giữ ẩm và đỡ cỏ.
  4. Làm nhỏ giọt tự chế: chai nhựa đục lỗ nhỏ cắm cạnh gốc, hoặc ống mềm đục lỗ chạy dọc luống, đổ nước vào từ thùng đặt cao.
  5. Gom cây ưa nước một chỗ, gần ao hoặc bể, cây chịu hạn ra xa.
  6. Đào rãnh nhỏ dẫn nước mưa từ sân, lối đi vào gốc cây thay vì để chảy ra đường.

Những việc này nghe nhỏ nhưng cộng lại thường giúp vườn dùng ít nước hơn hẳn so với tưới vòi lên lá giữa trưa, nhất là ở Tây Nguyên, Nam Trung Bộ và các vùng ven biển hay thiếu nước cuối mùa khô.

An toàn trẻ em quanh ao, giếng và lu nước

Đuối nước là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ em Việt Nam, và nhiều vụ xảy ra ngay trong vườn nhà: ao, giếng, mương, thậm chí lu, xô, chậu chỉ vài chục phân nước. Trẻ dưới năm tuổi có thể chìm trong nước nông mà không kêu được tiếng nào. Vì vậy với nông trang có trẻ nhỏ, an toàn nước phải làm trước khi thả con cá đầu tiên.

Những việc cần làm gồm: rào ao bằng hàng rào kín, đủ cao để trẻ không trèo qua, cổng có chốt cài ở phía trên; giếng có nắp đậy chắc, khoá được; lu, bể nước mưa có nắp nặng hoặc lưới căng chặt; xô chậu đổ hết nước sau khi dùng. Bờ ao nên có một đoạn thoải hoặc bậc để người lỡ rơi xuống tự bám lên được, và để sẵn một cây sào tre dài, một cái phao hay can nhựa buộc dây ở bờ.

Với trẻ lớn hơn, dạy bơi và dạy luật nước của nhà: không ra ao một mình, không với tay vớt đồ dưới nước, gọi người lớn khi có ai rơi xuống thay vì nhảy xuống cứu. Người lớn trong nhà nên học sơ cứu đuối nước từ khoá huấn luyện chính thức. Không có rào và không có người trông thì đừng để trẻ chơi gần ao, dù chỉ vài phút.

Bắt đầu theo bậc: năm đầu và năm sau

Gia đình mới về quê thường muốn làm cả ao, cả vườn, cả chuồng trong năm đầu. Cách bền hơn là đi theo bậc. Năm đầu: lo nước ăn sạch, làm vài bể, lu hứng nước mưa, lập hệ tưới tiết kiệm cho vườn rau, quan sát xem mùa mưa nước đọng ở đâu, mùa khô đất khô tới đâu. Những ghi chép này cho biết chỗ đào ao hợp lý hơn mọi bản vẽ.

Năm thứ hai, khi đã biết đất, biết nước, biết mình có bao nhiêu thời gian, mới đào ao hoặc cải tạo ao cũ, thả thưa vài loài cá dễ nuôi, trồng cây giữ bờ. Ao mới đào cần một mùa mưa để bờ ổn định, nước có màu, sinh vật đáy phát triển; thả cá ngay khi vừa đào xong thường cá chậm lớn và hay chết.

Từ năm thứ ba, ao vào nhịp: thu tỉa cá lớn, thả bù cá nhỏ, vét bùn cuối mùa khô, dùng nước tưới vườn. Lúc đó ao mới thật sự thành một phần của nông trang. Đừng kỳ vọng ao nuôi đủ toàn bộ lượng đạm cho cả nhà; ao nhỏ thêm được vài bữa cá mỗi tháng, cùng với trứng gà, rau vườn và đồ mua ở chợ quê, đã là một bữa cơm đa dạng hơn hẳn.

Câu hỏi thường gặp

Đất bao nhiêu thì nên đào ao cho nông trang gia đình?

Không có con số cố định. Thường khu đất từ vài trăm mét vuông trở lên, có góc trũng sẵn và có người ở nhà chăm hằng ngày thì ao nhỏ chừng vài chục đến một trăm mét vuông là hợp. Đất hẹp hơn nên ưu tiên bể chứa nước mưa và vườn rau, cá có thể bỏ qua.

Ao mới đào bao lâu thì thả cá được?

Nên chờ ao giữ được nước ổn định, bờ không còn sạt, nước có màu xanh nhạt hoặc vàng nhạt của tảo. Với đất mới đào, nhiều nhà chờ qua một mùa mưa. Trước khi thả nên thả thử vài con cá nhỏ trong lồng một hai ngày để xem nước có hợp không.

Có nên nuôi vịt trên ao cá của gia đình không?

Vịt và cá có thể chung ao nhưng ao nhỏ dễ quá tải phân. Nếu nuôi, chỉ vài con, có chuồng riêng trên bờ, không cho vịt ở ao cả ngày. Có vịt trên ao thì càng không dùng nước ao tưới lên rau ăn sống, và khi có dịch cúm gia cầm phải nhốt vịt, báo thú y xã.

Nước ao có dùng để rửa rau, rửa bát được không?

Không nên. Nước ao chứa phân cá, có thể có phân gia cầm và vi khuẩn đường ruột, ký sinh trùng. Rửa rau ăn sống, rửa bát, tắm cho trẻ phải dùng nước giếng đã kiểm, nước máy hoặc nước mưa sạch. Nước ao chỉ dùng tưới gốc cây, rửa chuồng, rửa dụng cụ làm vườn.

Nhà có trẻ nhỏ thì có nên làm ao không?

Có thể làm nếu rào kín toàn bộ ao bằng hàng rào trẻ không trèo qua được, cổng có chốt cao, và người lớn luôn để mắt. Nếu chưa rào được thì nên hoãn đào ao vài năm, dùng bể chứa có nắp khoá thay thế. Đuối nước ở trẻ nhỏ xảy ra rất nhanh và im lặng.

Ao nhỏ có cần sục khí hay máy bơm không?

Ao gia đình thả thưa thường không cần sục khí thường xuyên. Một máy bơm nhỏ hữu ích để tưới và thay bớt nước khi trời oi, nước quá xanh. Nếu hay thấy cá nổi đầu lúc rạng sáng, trước tiên nên giảm mật độ cá và lượng thức ăn, sau đó mới tính tới sục khí.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.