Với 100–400 m² ở ven đô, hãy ưu tiên theo thứ tự: rau gia vị và rau ăn lá gieo nối tiếp sát bếp, giàn leo tận dụng tường và hàng rào, thùng ủ phân kín, lu hoặc bể nước mưa, rồi mới đến vài con gà nếu hàng xóm và quy định khu dân cư cho phép. Ao cá, cây ăn trái tán lớn và đàn gà đông thường không hợp đất ít ở nơi nhà san sát.
Mảnh đất nhỏ đòi cách làm khác vườn quê rộng: trồng dày hơn, dùng chiều đứng nhiều hơn, chú ý mùi, tiếng ồn, nước thải hơn. Nhưng đổi lại, vườn nhỏ dễ chăm đều tay và cho rau gần như mỗi ngày. Phần dưới đi qua từng ưu tiên và những điều cần dè chừng riêng ở ven đô.
Đất ít thì tính theo mỗi mét vuông cho gì
Khi đất rộng, có thể để ao, để sân gà lớn, trồng cây ăn trái thưa. Khi đất ít, mỗi mét vuông phải được hỏi: chỗ này cho nhà mình bao nhiêu bữa ăn, bao nhiêu tháng trong năm, đòi bao nhiêu công.
Rau gia vị đứng đầu: hành lá, ngò, húng, tía tô, kinh giới, sả, ớt chiếm rất ít chỗ, thu liên tục nhiều tháng và là thứ mua lẻ ở chợ nhiều lần nhất. Kế đến là rau ăn lá ngắn ngày như cải, rau muống, mồng tơi, rau dền, xà lách; một luống vài mét vuông gieo nối tiếp có thể cho rau gần như quanh năm.
Rau ăn quả và củ chiếm nhiều chỗ, thời gian lâu hơn. Trong số đó, những loại leo như mướp, bầu, bí, đậu đũa, su su, chanh dây có lợi thế lớn vì chúng dùng không gian theo chiều đứng chứ không chiếm mặt đất. Bắp, khoai lang trồng diện rộng, bí đỏ bò đất thì thường không đáng với vườn chỉ vài trăm mét vuông.
Cây ăn trái tán lớn như xoài, mít, nhãn là thứ đất nhỏ "chịu" kém nhất: một cây trưởng thành có thể phủ bóng vài chục mét vuông. Nếu muốn có trái, chọn cây có thể giữ tán gọn như chanh, ổi, đu đủ, chuối, hoặc trồng sát ranh phía bóng rơi ra ngoài vườn.
Trồng dày và trồng theo chiều đứng
Luống cố định, không giẫm. Luống rộng 1–1,2 m, lối đi hẹp vừa bàn chân. Đất không bị nén nên rễ ăn sâu, rau trồng dày hơn mà vẫn tốt. Mỗi mùa chỉ bổ sung phân ủ, xới nhẹ mặt.
Trồng xen theo thời gian. Gieo cải, xà lách ngắn ngày vào giữa hai hàng cà, ớt mới trồng; khi cà lớn che kín thì cải đã thu xong. Một luống cho hai lứa trong cùng khoảng thời gian.
Giàn leo trên tường và hàng rào. Một bức tường dài mười mét có thể đỡ giàn mướp, đậu, bầu cho cả mùa. Tường hướng nắng tốt cho cây ưa nóng; tường khuất chiều hợp với rau thơm, rau ăn lá vào mùa nắng gắt.
Chậu, thùng, bao trồng ở chỗ không có đất. Sân xi măng, bậc thềm, mái hiên đặt được thùng xốp, bao trồng khoai môn, gừng, nghệ, hành. Chú ý thoát nước đáy thùng và không đặt nơi nước nhỏ xuống lối đi nhà hàng xóm.
Rau lâu năm ở rìa vườn. Rau ngót làm hàng rào, lá lốt dưới bóng cây, sả quanh góc chuồng. Rìa vườn thường bỏ không, lại là chỗ hợp cho các loại rau ít đòi chăm.
Nước và phân trong vườn nhỏ
Ở ven đô, nước máy có sẵn nhưng tưới cả vườn bằng nước máy mùa khô là một khoản không nhỏ, lại không tốt bằng nước mưa cho rau. Mái nhà là nguồn nước tưới dễ có nhất: lắp máng xối dẫn vào lu, bể, thùng có nắp. Lu bể phải có nắp đậy hoặc lưới để không thành chỗ muỗi đẻ, đây là điều đặc biệt quan trọng ở khu dân cư đông, nơi sốt xuất huyết hay bùng phát mùa mưa.
Phủ rơm, lá khô, vỏ trấu trên mặt luống giúp giảm tưới đáng kể. Tưới gốc bằng bình hoặc ống mềm thay vì phun lên lá vừa tiết kiệm nước vừa giảm bệnh nấm.
Ủ phân ở đất nhỏ nên dùng thùng kín có nắp hoặc hố có che, thay vì đống hở. Rác bếp như vỏ rau, vỏ trái cây, bã trà, vỏ trứng đập vụn trộn với lá khô, giấy vụn để giữ cân bằng ẩm và khô; đống ủ đủ lá khô thì ít mùi, ít ruồi. Tránh cho thịt, cá, xương, dầu mỡ vào thùng ủ ở khu dân cư vì dễ hôi và kéo chuột.
Nuôi trùn quế trong thùng nhỏ cũng là cách xử lý rác bếp gọn, cho phân trùn tốt cho rau. Thùng đặt chỗ râm mát, tránh nắng trực tiếp và mưa tạt.
Phân gà nếu có nuôi phải qua ủ hoai rồi mới bón, không rải phân tươi lên luống rau ăn sống vì nguy cơ vi khuẩn đường ruột. Ở vườn nhỏ, lượng phân gà của vài con mái trộn cùng rác bếp và lá khô trong thùng ủ thường đủ nuôi luống rau, gần như không cần mua thêm phân, miễn là đống ủ được đảo và giữ ẩm đều.
Gà ở khu dân cư: cân nhắc trước khi nuôi
Nuôi vài con gà mái lấy trứng ở ven đô là việc nhiều nhà vẫn làm, nhưng ở nơi nhà sát vách, chuyện gà dễ thành chuyện xóm. Bảng dưới gom những điều cần cân nhắc.
| Vấn đề | Vì sao quan trọng | Cách xử lý |
|---|---|---|
| Quy định khu dân cư | Một số nơi hạn chế chăn nuôi trong khu dân cư đô thị | Hỏi tổ dân phố, ủy ban phường xã trước khi nuôi |
| Tiếng gáy | Gà trống gáy sớm, dễ gây phiền | Chỉ nuôi gà mái; gà mái vẫn đẻ trứng không cần trống |
| Mùi và ruồi | Chuồng ẩm, phân đọng gây mùi lan sang nhà bên | Độn chuồng khô, dọn thường xuyên, phân vào thùng ủ kín |
| An toàn sinh học | Nhà san sát, bệnh lây nhanh | Đàn nhỏ có nguồn gốc rõ, tiêm phòng theo khuyến cáo, rửa tay sau khi chăm gà; gà chết bất thường thì báo thú y |
| Khoảng cách | Chuồng sát cửa sổ nhà khác, sát giếng | Đặt chuồng lùi vào trong, xa nguồn nước, cuối hướng gió |
| Thả rông | Gà sang vườn nhà hàng xóm bới rau | Rào sân gà kín, cắt bớt lông cánh nếu gà hay bay qua rào |
Với đất dưới 150 m² hoặc nhà sát vách nhiều phía, thường nên bỏ qua gà, tập trung rau. Trứng mua ở chợ vẫn dễ hơn một cuộc cãi nhau với hàng xóm.
Những điều dè chừng riêng ở ven đô
Đất ven đô nhiều nơi từng là ruộng, cũng có nơi từng là bãi đổ phế thải xây dựng, xưởng nhỏ, ven đường xe tải. Rau trồng sát đường lớn có thể dính bụi, khói xe; đất từng chứa phế liệu có thể có kim loại nặng. Nếu không chắc lịch sử mảnh đất, nên trồng rau ăn trong luống đắp đất mới có lót đáy, rửa rau kỹ, và cân nhắc gửi mẫu đất phân tích.
Nước thải từ khu dân cư, mương thoát nước chung không nên dùng tưới rau ăn sống. Nước ao, mương có màu, mùi lạ cũng vậy. Nước rửa rau, nước vo gạo trong nhà thì dùng tưới gốc được, miễn là không lẫn xà phòng, nước rửa chén.
Côn trùng và thú nhỏ ở ven đô khác ở quê: ít chồn cáo nhưng nhiều chuột, mèo hoang, chó thả rông. Chuồng gà cần lưới chắc, thức ăn gà cất trong thùng kín.
Thuốc bảo vệ thực vật càng phải hạn chế khi nhà san sát: hơi thuốc bay sang nhà hàng xóm, trẻ con chơi gần. Ưu tiên bắt sâu bằng tay, bẫy, lưới chắn côn trùng, trồng xen rau thơm; nếu buộc phải dùng thuốc thì chọn loại sinh học, đọc kỹ nhãn, phun lúc lặng gió và báo hàng xóm.
Ví dụ giả định: chia 250 m² sau một căn nhà ven đô
Một mảnh đất chữ nhật khoảng 10 m x 25 m phía sau nhà, tường rào xây hai bên, phía cuối giáp vườn nhà khác. Đây là ví dụ giả định để thấy cách áp các ưu tiên ở trên.
- Sát cửa bếp, khoảng 15 m²: rau gia vị trong luống hẹp và chậu, cạnh đó hai lu nước mưa có nắp hứng từ mái bếp.
- Giữa vườn, khoảng 100 m²: tám luống rau ăn lá và rau ăn quả, luống chạy theo chiều dài mảnh đất, gieo nối tiếp mỗi hai tuần.
- Tường rào hai bên: giàn mướp, đậu đũa, bầu phía tường nhiều nắng; rau ngót làm hàng rào phía tường khuất.
- Góc cuối, khoảng 20 m²: chuồng nhỏ cho bốn gà mái, sân rào lưới, thùng ủ phân kín và thùng trùn quế bên cạnh.
- Dọc ranh cuối: hai cây chuối, một cây chanh, một cây ổi giữ tán thấp.
- Phần còn lại là lối đi lát gạch vỡ, một mái che nhỏ để dụng cụ và ghế ngồi.
Với cách chia này, gia đình ba bốn người thường có rau gia vị và phần lớn rau ăn lá, trứng đủ nhiều tuần, chanh, chuối theo mùa. Cá, gạo, thịt vẫn mua. Quan trọng hơn, cả vườn vừa với một giờ chăm mỗi ngày.
Nếu hàng xóm phía cuối có trẻ nhỏ hay người già nhạy mùi, có thể đổi chỗ chuồng gà lên giữa vườn, sát tường nhà mình, và đưa thùng ủ lại gần lối đi chính để dễ dọn.
Giữ hoà khí với hàng xóm
Ở quê, vườn cách vườn bằng bụi tre, mương nước. Ở ven đô, vườn cách nhà hàng xóm bằng một bức tường. Vì thế những thứ nhỏ như mùi chuồng, nước tưới chảy sang, giàn mướp leo qua tường, lá cây rụng xuống sân nhà bên đều có thể thành chuyện.
Nói trước với hàng xóm khi định nuôi gà hay làm giàn sát tường chung, hỏi họ có phiền gì không. Giữ giàn, cây trong ranh đất nhà mình, tỉa cành vươn sang nhà bên. Không đốt rác, đốt lá trong vườn ở khu dân cư.
Phần dư của vườn nhỏ là chất keo tốt cho tình làng nghĩa xóm: một bó rau thơm, mấy quả trứng, vài trái chanh mang sang nhà bên. Nhiều khi hàng xóm sẽ trả lại bằng cây giống, hạt giống, hoặc giúp cho gà ăn những hôm nhà mình đi vắng.
Khi có chuyện, giải quyết sớm và nhẹ nhàng. Nếu hàng xóm phàn nàn về mùi, hãy dọn chuồng ngay hôm đó, thêm độn khô, dời thùng ủ ra xa tường chung, rồi sang hỏi lại vài hôm sau xem đã đỡ chưa. Nếu gà nhà mình sang bới rau nhà bên, rào lại và đền bằng rau, bằng trứng thay vì cãi xem ai đúng. Ở ven đô, một vườn rau sống được lâu năm thường là vườn mà hàng xóm cũng thấy vui khi nó ở đó, chứ không chỉ chủ nhà.
Câu hỏi thường gặp
Có thể trồng rau trên sân thượng thay cho đất không?
Được, với rau gia vị, rau ăn lá và một số rau ăn quả trong thùng, chậu. Cần kiểm tra khả năng chịu tải và chống thấm của sân thượng, không chất đất quá dày, có lối thoát nước. Sân thượng không phù hợp nuôi gà hoặc đặt bể nước lớn nếu chưa hỏi người có chuyên môn về kết cấu.
Đất ven đô nhiều xà bần thì làm sao trồng rau?
Có thể nhặt bớt gạch đá trên mặt, đắp luống nổi bằng đất mới trộn phân ủ, hoặc làm luống quây gạch, gỗ cao vài chục phân. Cách này giúp rễ rau không chạm lớp đất xấu và dễ kiểm soát chất lượng đất trồng.
Ở ven đô có nên đào ao nhỏ không?
Thường không nên, vì đất ít, nhà san sát, ao dễ thành chỗ muỗi đẻ, có mùi và nguy hiểm cho trẻ nhỏ. Lu, bể nước mưa có nắp phục vụ tưới gọn hơn. Nếu thật sự muốn nuôi cá, có thể cân nhắc bể xây nhỏ có lưới chắn và nắp an toàn.
Nuôi gà ở nhà phố có cần đăng ký với ai không?
Quy định chăn nuôi trong khu dân cư khác nhau theo địa phương và có thể thay đổi. Trước khi nuôi, nên hỏi tổ dân phố hoặc ủy ban phường xã để biết có được phép không và cần lưu ý gì về vệ sinh, tiêm phòng.
Rau trồng sát đường lớn có ăn được không?
Rau gần đường đông xe có thể bám bụi và khí thải. Nếu buộc phải trồng ở đó, nên có hàng rào cây hoặc tường chắn, ưu tiên rau ăn quả có vỏ thay cho rau ăn lá, và rửa rau kỹ dưới vòi nước chảy trước khi ăn.