Trẻ dưới năm tuổi có thể đuối nước trong ao, mương, giếng, và cả trong lu, xô, chậu chỉ vài phân nước, thường không có tiếng kêu hay vùng vẫy đủ để người lớn đứng gần nhận ra. Với một nông trang có trẻ nhỏ, việc phòng đuối nước có ba lớp: rào và đậy kín mọi chỗ có nước; người lớn để mắt liên tục khi trẻ ở ngoài vườn; và dạy trẻ lớn hơn luật nước, kỹ năng bơi và cách gọi người lớn thay vì nhảy xuống cứu.
Không lớp nào đủ một mình. Rào có lúc quên đóng cổng, người lớn có lúc quay đi nghe điện thoại, trẻ biết bơi vẫn có thể bị chuột rút hay đuối sức. Bài này đi qua từng lớp, kèm danh sách kiểm tra một vòng quanh nông trang mà gia đình nên làm ngay hôm nay.
Vì sao đuối nước ở trẻ nhỏ xảy ra trong im lặng
Trong phim, người đuối nước la hét, vẫy tay. Thực tế ở trẻ nhỏ thường khác: trẻ trượt chân, đầu nặng chúi xuống trước, nước tràn vào mũi miệng khiến trẻ không kêu được, chỉ trong khoảng một hai phút có thể bất tỉnh. Tổ chức Y tế Thế giới xếp đuối nước vào nhóm nguyên nhân tử vong hàng đầu ở trẻ em, nhất là trẻ từ một đến bốn tuổi. Ở Việt Nam, các báo cáo trong nước nhiều năm thường nêu con số khoảng hai nghìn trẻ em tử vong vì đuối nước mỗi năm, phần lớn ở nông thôn.
Nông trang gia đình có nhiều điều kiện của tai nạn này: ao, mương, giếng, lu bể nằm ngay trong vườn, trẻ được thả chơi tự do, người lớn bận tay với việc vườn. Nhiều vụ xảy ra khi trẻ đi theo gà vịt ra bờ ao, cúi nhặt đồ chơi rơi xuống nước, hoặc trèo lên thành lu nhìn cá. Đặc điểm chung là trẻ đi ra khỏi tầm mắt người lớn chỉ trong vài phút.
Kiểm tra một vòng quanh nông trang
Đi một vòng quanh nhà, vườn, và cả ranh đất giáp nhà hàng xóm, đánh dấu từng chỗ có nước. Bảng dưới là các nguồn nguy hiểm hay gặp và cách xử lý tối thiểu.
| Chỗ có nước | Nguy cơ | Cách xử lý tối thiểu |
|---|---|---|
| Ao cá, mương vườn | Sâu, bờ trơn, trẻ đi theo gà vịt ra bờ | Rào kín bốn phía, cổng tự đóng có chốt cao; bờ có đoạn thoải để bám lên |
| Giếng đào | Rơi thẳng xuống, khó cứu | Nắp bê tông hoặc nắp gỗ dày có khoá; không để trẻ ngồi trên thành giếng |
| Lu, khạp, chum nước mưa | Trẻ trèo lên nhìn, chúi đầu vào | Nắp nặng hoặc lưới căng buộc chặt; đặt lu trên nền phẳng, không kê đồ cho trẻ trèo |
| Bể nước, bể ngầm | Nắp hở, nắp mục | Nắp bê tông hoặc tấm đan chắc, không dùng tôn mỏng che tạm |
| Xô, chậu, thau | Trẻ dưới hai tuổi có thể chúi đầu vào | Đổ hết nước sau khi dùng, úp ngược |
| Hố ga, hố ủ phân ngập nước, hố đào dở | Không ai để ý là có nước | Đậy kín hoặc rào, lấp hố không dùng |
| Mương, kênh, sông ngoài ranh đất | Trẻ đi ra khỏi nhà | Rào và cổng ra ngõ có chốt; dạy trẻ không ra khỏi cổng một mình |
Nhiều gia đình ngạc nhiên vì con số chỗ có nước khi đi hết một vòng. Đừng chỉ nghĩ tới ao; trẻ nhỏ đuối nước trong lu, xô, chậu không hiếm.
Rào ao thế nào cho đúng
Rào cả bốn phía. Rào ba phía, chừa phía giáp vườn để tiện làm việc là kiểu rào không có tác dụng với trẻ. Ao cần rào kín, chỉ ra vào qua một cổng.
Đủ cao, khó trèo. Nhiều tiêu chuẩn hàng rào an toàn quanh hồ nước cho trẻ đề cập chiều cao khoảng một mét hai trở lên. Nan rào thẳng đứng, khe hẹp để trẻ không chui lọt đầu, không có thanh ngang mà trẻ có thể dùng làm bậc trèo. Hàng rào tre đan, lưới B40 có khung đều làm được, miễn là chắc và kín.
Cổng tự đóng, chốt cao. Cổng nên có lò xo hoặc bản lề nghiêng để tự đóng lại, chốt cài ở trên cao ngoài tầm tay trẻ. Cổng phải mở ra phía ngoài ao, để trẻ đẩy vào không mở được.
Không để đồ kê sát rào. Thùng, ghế, chồng gạch, đống củi đặt sát rào là bậc thang cho trẻ. Kiểm tra quanh rào mỗi tuần.
Rào mương và chỗ nước nông. Mương vườn, rãnh thoát nước sâu, hố trũng mùa mưa cũng cần rào hoặc lấp nếu không dùng. Trẻ nhỏ đuối được trong chỗ nước chỉ ngập mặt.
Người lớn để mắt: giám sát chủ động
Rào và nắp chỉ là lớp thứ nhất. Khi trẻ dưới năm tuổi ở ngoài vườn, luôn có một người lớn được giao nhiệm vụ để mắt, không làm việc khác cùng lúc. Điều này nghe khó trong một nông trang bận rộn, nhưng cách tổ chức đơn giản là thay phiên: ai đang làm vườn thì người khác trông trẻ; nếu chỉ có một người lớn ở nhà, trẻ ở trong khu vực có rào riêng, hoặc làm việc vườn vào lúc trẻ ngủ.
Những lúc dễ xảy ra tai nạn là lúc gia đình bận rộn bất thường: ngày thu hoạch, ngày tát ao, ngày có khách, ngày mất điện, ngày lũ. Đông người không có nghĩa là có người trông; mỗi người tưởng người kia đang để mắt. Vào những ngày như vậy, giao rõ tên người trông trẻ, và khi chuyển việc thì nói thành lời: "Giờ ông trông bé nhé."
Khi trẻ vắng mặt dù chỉ vài phút, chỗ đầu tiên cần tìm là ao, giếng, lu bể, mương, rồi mới tới các chỗ khác trong nhà. Thời gian quý nhất là mấy phút đầu.
Với trẻ còn rất nhỏ, một khoảng sân hay góc vườn rào riêng, có bóng mát, có đồ chơi, có luống rau nhỏ của bé, là cách để trẻ vẫn ở ngoài trời cùng gia đình mà người lớn yên tâm làm việc ở gần. Khu này không có lu, xô, chậu chứa nước, và nằm trong tầm nhìn từ chỗ người lớn làm vườn.
Luật nước của nhà: dạy trẻ theo tuổi
Trẻ lớn dần thì rào và giám sát được bổ sung bằng hiểu biết. Một số luật đơn giản nên dạy và nhắc lại thường xuyên, người lớn trong nhà cũng làm đúng để trẻ thấy:
- Từ hai đến bốn tuổi: ao và giếng là chỗ chỉ đi cùng người lớn; không lại gần lu, bể; không với tay xuống nước nhặt đồ.
- Từ năm đến bảy tuổi: làm quen với nước dưới sự hướng dẫn, học nổi, học thở; biết gọi to người lớn khi thấy ai rơi xuống nước; không ra ao một mình kể cả khi đã biết bơi.
- Từ tám tuổi trở lên: học bơi ở lớp có người hướng dẫn và nơi an toàn; học cách cứu từ bờ: đưa sào, ném phao, can nhựa, dây, không nhảy xuống cứu người.
- Mọi lứa tuổi: không đùa đẩy nhau ở bờ ao, không tắm ao, sông khi trời mưa giông, không xuống nước khi vừa ăn no hay đang mệt.
Ở nông thôn, nhiều vụ đuối nước có hai trẻ cùng tử vong vì một trẻ nhảy xuống cứu bạn. Dạy trẻ rằng gọi người lớn và ném đồ nổi là cách cứu bạn đúng, không phải là hèn nhát.
Bờ ao và dụng cụ cứu hộ đơn giản
Bờ ao dựng đứng, trơn rêu khiến người lớn lẫn trẻ lỡ rơi xuống khó tự bám lên. Nên có ít nhất một đoạn bờ thoải, hoặc vài bậc đá, bậc gỗ, cọc tre làm tay vịn ở chỗ lấy nước. Đoạn bờ này cũng tiện khi làm việc, múc nước, vét bùn.
Ở nơi dễ thấy cạnh ao nên có một cây sào tre dài, một can nhựa rỗng hoặc phao buộc dây dài vài mét. Đây là dụng cụ để cứu từ bờ: đưa sào cho người dưới nước nắm, hoặc ném can có dây rồi kéo vào. Không treo dụng cụ ở chỗ phải mở khoá hay đi vòng mới lấy được. Dạy mọi người trong nhà, kể cả trẻ lớn, nơi để và cách dùng.
Khi làm việc dưới ao như vét bùn, kéo lưới, không làm một mình, nhất là người lớn tuổi. Bùn sâu có thể giữ chân người, nước lạnh làm chuột rút. Phải có người trên bờ.
Khi có trẻ hàng xóm và khách đến chơi
Nông trang thường thu hút trẻ con: trẻ hàng xóm sang xem gà, cháu ở phố về chơi cuối tuần, con của khách đến thăm, đến đổi giống, đổi rau. Những đứa trẻ này không biết chỗ nào trong vườn có nước sâu, không quen luật nước của nhà, và người lớn đi cùng cũng thường không biết. Nhiều vụ đuối nước ở nông thôn xảy ra với trẻ không phải con của gia chủ.
Khi có khách mang theo trẻ nhỏ, chủ nhà nói rõ ngay từ đầu: chỗ nào có ao, giếng, mương; ai sẽ trông các bé; khu nào các bé được chơi. Kiểm tra cổng rào ao đã cài chưa, lu bể đã đậy chưa. Với trẻ hàng xóm hay sang chơi, nói chuyện với ba mẹ các bé về luật nước của nhà mình, để cùng nhắc một kiểu.
Ngày có đông khách, đông trẻ, như đám giỗ, ngày tát ao, ngày Tết, là lúc nên giao hẳn một người lớn không làm việc gì khác ngoài trông trẻ. Người đó có thể đổi ca, nhưng lúc nào cũng phải có tên một người cụ thể chịu trách nhiệm.
Người lớn trong nhà nên biết sơ cứu
Khi có người đuối nước, việc đầu tiên là đưa người ra khỏi nước an toàn, gọi to để có người hỗ trợ và gọi cấp cứu 115. Không dốc ngược người bị nạn để xốc nước, không chạy vòng quanh vác người trên vai: những cách dân gian này làm mất thời gian quý và có thể gây hại thêm. Nếu người bị nạn không thở hoặc thở bất thường, cần bắt đầu thổi ngạt và ép tim ngay theo cách đã được huấn luyện, làm liên tục cho tới khi nhân viên y tế đến hoặc người bị nạn thở lại.
Kỹ năng này không học được qua đọc một bài viết. Gia đình có ao, giếng nên có ít nhất một hai người lớn học khoá sơ cứu, hồi sức tim phổi do các tổ chức y tế, chữ thập đỏ hay trường học tổ chức, và ôn lại vài năm một lần. Biết sơ cứu không thay thế cho rào, nắp và giám sát; nó chỉ là lớp cuối cùng khi các lớp trước đã thất bại.
Mọi trường hợp trẻ bị đuối nước, kể cả khi đã tỉnh và có vẻ bình thường, đều nên được đưa đi khám, vì có thể có biến chứng ở phổi xuất hiện sau đó vài giờ.
Câu hỏi thường gặp
Trẻ đã biết bơi thì có cần rào ao nữa không?
Vẫn cần. Trẻ biết bơi vẫn có thể bị trượt chân, va đầu, chuột rút, mắc vào rong rêu, hoặc mệt sức. Với trẻ dưới năm tuổi, khả năng bơi không thay thế rào và giám sát. Rào ao là lớp bảo vệ cho mọi trẻ, kể cả trẻ hàng xóm sang chơi.
Lu nước nhỏ thì có cần đậy không?
Có. Trẻ dưới hai tuổi có thể đuối nước trong lu, xô, chậu chỉ vài chục phân nước vì đầu nặng, chúi xuống không tự lên được. Lu nào cũng cần nắp chắc hoặc lưới buộc chặt, xô chậu đổ hết nước sau khi dùng. Đậy lu còn giúp chặn muỗi đẻ.
Rào ao bằng hàng rào cây xanh có được không?
Hàng rào cây xanh trông đẹp nhưng thường có khe hở dưới gốc, cây chưa dày thì trẻ chui qua được. Nếu muốn trồng cây, nên dựng hàng rào lưới hoặc tre kín bên trong trước, cây xanh trồng bên ngoài để che. Cổng vẫn phải có chốt cao.
Nhà có trẻ nhỏ có nên lấp ao không?
Tuỳ khả năng rào và giám sát của gia đình. Nếu không rào kín được và không có người trông thường xuyên, lấp tạm hoặc thu nhỏ ao, thay bằng bể có nắp khoá trong vài năm là lựa chọn an toàn. Khi trẻ lớn, biết bơi và hiểu luật nước, có thể làm lại ao.
Có nên cho trẻ học bơi ở ao nhà không?
Không nên tự dạy trẻ bơi ở ao vì đáy bùn, nước đục, không thấy độ sâu, khó cứu khi có chuyện. Nên cho trẻ học ở lớp bơi có người hướng dẫn, nơi nước trong, có độ sâu rõ ràng. Ở ao nhà, trẻ chỉ học luật an toàn và cách cứu từ bờ.
Khi thấy trẻ dưới ao thì làm gì đầu tiên?
Gọi to để có người khác tới, đưa trẻ lên bờ càng nhanh càng tốt nhưng không để thêm người gặp nạn. Gọi cấp cứu 115. Nếu trẻ không thở hoặc thở bất thường, bắt đầu thổi ngạt, ép tim theo cách đã học. Không dốc ngược trẻ để xốc nước.