Nước ao nuôi cá dùng tưới vườn được và còn tốt cho cây, vì có phân cá, tảo, chất hữu cơ hoà tan. Nhưng nó không phải nước sạch: có thể có vi khuẩn đường ruột, trứng ký sinh trùng, nhất là khi ao có vịt, có nước chuồng chảy vào. Quy tắc dễ nhớ: nước ao tưới gốc cây lâu năm, cây ăn quả, rau ăn chín thoải mái; với rau ăn sống thì tưới vào gốc, ngưng tưới lên lá vài ngày trước khi hái, hoặc dùng nước giếng, nước mưa.
Bùn ao cũng vậy: nhiều mùn, giữ ẩm, giúp đất bạc màu tốt lên, nhưng phải phơi khô, ủ hoai trước khi bón cho rau. Bài này đi qua cách dùng hai nguồn này cho đúng, những trường hợp không nên dùng, và cách sắp xếp vườn để rau ăn sống không phải nhận nước ao.
Vì sao nước ao tốt cho cây
Cá thải ra phân và nước tiểu giàu đạm, thức ăn thừa phân huỷ ra lân, kali và nhiều chất vi lượng. Tảo trong nước cũng là chất hữu cơ khi tưới xuống đất sẽ phân huỷ thành mùn. Vì vậy cây tưới bằng nước ao thường xanh hơn cây tưới nước giếng, nhất là trên đất cát, đất bạc màu nghèo dinh dưỡng.
Nước ao cũng thường ấm hơn nước giếng khoan, ít gây sốc lạnh cho rễ khi tưới giữa trưa hè (dù không nên tưới giữa trưa). Ở nhiều vùng, nước giếng khoan nhiễm phèn, sắt, nhiễm mặn nhẹ, còn nước ao được bổ sung chủ yếu bằng mưa nên lại dịu hơn cho cây.
Ngược lại, chính vì giàu dinh dưỡng mà nước ao cũng là môi trường tốt cho vi sinh vật, kể cả loại gây bệnh cho người. Hiểu điều đó, gia đình biết chỗ nào dùng thoải mái, chỗ nào phải cẩn thận. Tưới nước ao thường xuyên còn giúp ao được thay nước một phần: múc nước cũ ra vườn, mưa và nước giếng bù vào, cá cũng khoẻ hơn.
Dùng nước ao cho loại cây nào
Bảng sau sắp xếp cây trong vườn theo mức rủi ro nếu tưới nước ao. Rủi ro phụ thuộc chủ yếu vào việc phần ăn được có chạm nước không và có được nấu chín không.
| Nhóm cây | Ví dụ | Dùng nước ao | Lưu ý |
|---|---|---|---|
| Cây ăn quả lâu năm | Chuối, ổi, bưởi, xoài, mít, nhãn | Thoải mái | Tưới gốc, quả cao không chạm nước |
| Cây leo giàn | Bầu, bí, mướp, su su, đậu | Thoải mái | Quả treo trên giàn; rau ngọn bí, ngọn su nấu chín |
| Rau ăn chín | Rau muống, cải, mồng tơi, rau lang, rau dền | Được, tưới gốc tốt hơn | Rửa kỹ, nấu chín kỹ |
| Củ | Khoai lang, sắn, gừng, nghệ, khoai môn | Được | Rửa sạch đất, gọt vỏ, nấu chín |
| Rau ăn sống, rau gia vị | Xà lách, rau thơm, húng, tía tô, rau má, dưa leo | Tưới gốc, ngưng tưới lên lá vài ngày trước khi hái; tốt nhất dùng nước sạch | Nguy cơ cao nhất vì phần ăn chạm nước và ăn sống |
| Cây con, rau mầm | Khay ươm, rau mầm | Không nên | Cây non dễ nhiễm nấm, rau mầm ăn sống |
Nếu ao có vịt, ngan bơi thường xuyên hoặc có nước chuồng heo chảy vào, xếp tất cả rau lá vào nhóm cẩn thận: tưới gốc, không tưới lên lá trong tuần trước khi hái.
Rủi ro vệ sinh cần biết
Vi khuẩn đường ruột. Phân gia cầm, phân động vật hoang như chuột, chim rơi xuống ao mang theo vi khuẩn gây tiêu chảy. Tưới lên lá rau ăn sống là cách đưa chúng thẳng tới bát nước chấm.
Sán lá gan lớn qua rau thuỷ sinh. Ở Việt Nam, bệnh sán lá gan lớn đã được ghi nhận ở nhiều tỉnh miền Trung, Tây Nguyên và các vùng khác. Ấu trùng sán bám trên rau mọc dưới nước hoặc ven nước như rau ngổ, cải xoong, rau cần, rau muống nước ở nơi có trâu bò, dê, cừu thả. Rau mọc trong và ven ao nhà nên ăn chín.
Giun, sán khác từ đất và phân. Đất vườn bón phân chưa hoai, bùn ao tươi cũng có thể chứa trứng giun. Rửa rau dưới vòi nước chảy, ngâm không thay thế được việc rửa kỹ từng lá với rau ăn sống.
Kim loại và hoá chất. Ao nhận nước từ ruộng phun thuốc nhiều, gần xưởng, gần đường lớn, hoặc từng có người đổ ắc quy, dầu nhớt xuống thì nước và bùn có thể nhiễm kim loại nặng, dư lượng thuốc. Những ao này không dùng tưới rau.
Tảo độc. Ao nước tù, nóng, giàu dinh dưỡng có lúc nở dày tảo lam, mặt nước xanh đặc như sơn, có váng, có mùi hôi. Tảo lam có thể sinh độc tố; lúc đó không dùng nước ao tưới rau, không cho gia súc uống, không để trẻ chơi nước.
Cách tưới nước ao cho an toàn
Mấy thói quen dưới đây giảm phần lớn rủi ro mà vẫn tận dụng được nước ao:
- Lấy nước ở tầng giữa, cách đáy và cách mặt, không múc váng mặt và không khuấy bùn đáy.
- Tưới vào gốc hoặc rãnh giữa luống, không xối lên lá, nhất là với rau ăn sống.
- Với rau ăn sống, ngưng tưới nước ao trong vài ngày trước khi thu hái, chuyển sang nước giếng hoặc nước mưa.
- Để riêng một bình tưới cho nước ao, đánh dấu bằng màu, không dùng chung với bình nước sạch.
- Rửa tay sau khi tưới, đặc biệt trước khi ăn uống và trước khi bế trẻ.
- Không tưới nước ao khi ao đang có váng tảo dày, có mùi lạ, có cá chết bất thường.
- Rau từ vườn tưới nước ao, kể cả rau ăn chín, đều rửa kỹ dưới vòi nước chảy trước khi nấu.
Sắp xếp luống cũng giúp: đặt các luống rau sống, rau gia vị gần bể nước mưa hoặc giếng, đặt cây ăn quả, giàn bầu bí, rau ăn chín gần ao. Khi nguồn nước sạch ở ngay cạnh, việc tưới đúng trở nên tự nhiên.
Với người lớn tuổi và trẻ nhỏ trong nhà, những người dễ bị tiêu chảy nặng hơn, càng nên giữ nguyên tắc rau ăn sống chỉ đến từ luống tưới nước sạch. Một đợt tiêu chảy của ông bà hay của bé thường bắt đầu từ đĩa rau sống tưởng là sạch vì nhà tự trồng.
Nếu gia đình muốn dùng nước ao nhiều hơn cho cả rau ăn sống, có thể làm một bể lắng hai ngăn đơn giản: nước ao bơm vào ngăn thứ nhất cho cặn lắng, tràn sang ngăn thứ hai có lớp cát sỏi, rồi mới lấy ra tưới. Cách này làm nước trong hơn, bớt tảo và cặn, đỡ tắc ống, nhưng không biến nước ao thành nước sạch về vi sinh; vẫn giữ thói quen tưới gốc và ngưng tưới lên lá trước khi hái.
Sắp xếp vườn quanh hai nguồn nước
Vành trong gần bể nước sạch. Luống rau sống, rau gia vị, rau mầm, khay ươm đặt gần hiên nhà, gần bể nước mưa hoặc vòi nước giếng. Đây là những thứ hái hằng ngày, cần nước sạch và cần để mắt nhiều nhất.
Vành giữa là rau ăn chín. Rau muống, cải, mồng tơi, rau lang, rau dền, cà, ớt đặt ở giữa vườn. Dùng được cả nước ao lẫn nước sạch, tưới gốc là chính, tưới lên lá khi trời quá nóng cũng không sao vì rau sẽ được nấu.
Vành ngoài sát ao. Giàn bầu bí, chuối, đu đủ, cây ăn quả lâu năm, khoai, sắn, gừng nghệ nằm quanh bờ ao. Rễ cây lấy được ẩm từ ao, tưới nước ao là thuận tay nhất, bùn ao vun gốc trực tiếp sau khi đã phơi.
Lối đi phân ranh. Một lối đi hay một hàng cây thấp chia vành trong với vành ngoài giúp người trong nhà, kể cả người mới đến giúp việc, nhìn là biết bình nước nào tưới được chỗ nào. Thói quen đúng dễ giữ khi vườn sắp xếp sẵn cho nó.
Bùn ao: phơi, ủ rồi mới bón
Bùn đáy ao là hỗn hợp của đất mịn, lá mục, phân cá, xác tảo tích tụ qua nhiều năm. Bùn tốt có màu đen, mịn, mùi hơi tanh nhẹ. Bùn quá thối, mùi trứng thối nặng, màu xám xanh là bùn thiếu ôxy lâu ngày, có nhiều chất độc với rễ cây nếu bón tươi.
Cách dùng an toàn: khi tát ao hoặc vét đáy cuối mùa khô, vớt bùn lên bờ, rải mỏng trên một khoảnh đất cao hoặc trên bạt, phơi nắng cho khô nứt, đảo vài lần. Sau đó có thể trộn với rơm, lá khô, phân chuồng để ủ thêm vài tuần đến vài tháng. Bùn đã khô, hết mùi, tơi xốp thì trộn vào đất luống hoặc vun gốc cây ăn quả.
Đất vườn nặng, đất sét thì bùn ao không giúp nhiều vì cũng là đất mịn, dễ làm luống bí chặt hơn; nên trộn với vật liệu thô như trấu, rơm băm. Đất cát, đất bạc màu thì bùn ao là thứ đáng quý: thêm mùn, giữ ẩm, giảm lượng nước tưới.
Không dùng bùn ao từng nhận nước thải nhà vệ sinh, nước thải xưởng, nước từ ruộng phun thuốc nhiều cho rau. Ao như vậy, bùn chỉ nên đắp bờ hoặc vun gốc cây lấy gỗ, cây bóng mát. Khi vét bùn, đeo găng, ủng, tránh để vết xước tiếp xúc với bùn vì nguy cơ nhiễm trùng và uốn ván.
Rau mọc trong và ven ao
Nhiều nhà thả rau muống, rau nhút, bèo, trồng rau ngổ, rau cần quanh bờ ao. Đây là nguồn rau tốt và cũng là thức ăn cho cá, nhưng nhóm rau này luôn nên nấu chín. Rau muống nước, rau nhút xào, nấu canh thì ngon và an toàn; rau ngổ, rau cần muốn ăn sống thì trồng trên luống đất tưới nước sạch, không trồng ven ao.
Nếu muốn có rau thuỷ sinh ăn sống như cải xoong, nên trồng trong thùng hoặc bể nhỏ dùng nước sạch, tách khỏi ao cá và nơi gia súc đi lại. Khi rửa rau thuỷ sinh, nhặt bỏ lá úa, rửa từng cọng dưới vòi chảy; ngâm nước muối loãng hay thuốc tím không diệt được ấu trùng sán bám chắc trên rau, chỉ nấu chín mới chắc chắn.
Bèo tấm, bèo dâu thả trên một góc ao là thức ăn tốt cho cá và cho vịt, nhưng mọc rất nhanh. Bèo phủ kín mặt ao làm nước thiếu ánh sáng, tảo không quang hợp được, ôxy về đêm tụt thấp. Nên quây bèo trong một khung tre chiếm chừng một phần nhỏ mặt ao, vớt bớt thường xuyên cho cá, cho gà vịt hoặc bỏ vào hố ủ phân. Bèo vớt lên ủ cùng rơm là nguồn đạm xanh tốt cho đống phân ủ.
Câu hỏi thường gặp
Nước ao có làm rau bị đắng hay có mùi không?
Thường không. Rau tưới nước ao có thể xanh đậm hơn vì nhiều đạm. Nếu ao đang nở tảo dày có mùi hôi, rau tưới lên lá có thể bám mùi; khi đó ngưng dùng nước ao và chuyển sang nước giếng, nước mưa cho tới khi ao trở lại bình thường.
Ao nuôi cá bằng cám công nghiệp có dùng nước tưới được không?
Được, nước ao nuôi bằng cám vẫn giàu dinh dưỡng cho cây. Những lúc vừa xử lý ao bằng vôi hay hoá chất, hoặc vừa dùng thuốc cho cá, nên đọc kỹ hướng dẫn trên nhãn và ngưng tưới rau trong thời gian khuyến cáo, chỉ dùng cho cây không lấy ăn.
Bùn ao phơi bao lâu thì bón được?
Tuỳ nắng và độ dày lớp bùn. Thường phơi mỏng vài tuần cho khô nứt, hết mùi thối là bón được cho cây ăn quả. Với rau, nên ủ thêm với rơm, lá khô vài tuần đến vài tháng để bùn tơi và hoai. Bùn còn ướt nhão, mùi trứng thối thì chưa dùng.
Nhà có vịt bơi trên ao thì nước ao tưới rau được không?
Vẫn tưới được cho cây ăn quả, giàn leo và rau ăn chín, nhưng nguy cơ vi khuẩn cao hơn ao chỉ có cá. Rau ăn sống nên tưới bằng nước sạch. Khi có dịch cúm gia cầm trong vùng thì nhốt vịt, không dùng nước ao cho rau và báo thú y xã nếu vịt chết bất thường.
Rửa rau bằng nước muối có diệt được ký sinh trùng không?
Không chắc chắn. Nước muối loãng, nước rửa rau chỉ giúp bớt bụi bẩn và một phần vi khuẩn, không diệt được ấu trùng sán bám trên lá. Với rau mọc dưới nước hay ven ao, nấu chín là cách an toàn nhất. Rau ăn sống thì trồng tách, tưới nước sạch.
Có nên dùng nước ao cho hệ tưới nhỏ giọt không?
Có thể, nhưng nước ao có tảo và cặn dễ làm tắc lỗ nhỏ giọt. Nếu dùng, lấy nước ở tầng giữa, qua một lớp lọc lưới hoặc lọc cát đơn giản, súc rửa đường ống thường xuyên. Hệ tự chế lỗ to như ống đục lỗ hoặc chai nhỏ giọt ít tắc hơn.