Trong nông trang gia đình, giếng là nguồn nước quý nhất vì nó thường là nguồn nước ăn uống. Nguyên tắc số một là giữ giếng cho việc ăn uống, nấu nướng, tắm rửa; việc tưới vườn, rửa chuồng ưu tiên dùng nước ao, nước mưa. Giếng phải có thành cao, nắp đậy, sân láng có rãnh thoát, nằm xa chuồng trại và nhà vệ sinh, và nên được xét nghiệm nước trước khi dùng lâu dài, nhất là ở những vùng đã ghi nhận nước ngầm nhiễm asen, mặn, sắt hay mangan.
Bài này dành cho gia đình đang dùng giếng cũ hoặc định làm giếng mới: phân biệt giếng đào và giếng khoan, những điểm cần sửa cho giếng sạch hơn, cách nhận biết nước có vấn đề, khi nào phải xét nghiệm và phải làm gì sau mùa lũ.
Giếng đào và giếng khoan khác nhau ở đâu
Hai kiểu giếng lấy nước ở hai tầng khác nhau nên rủi ro cũng khác nhau. Nhiều nông trang có cả hai: giếng đào cũ dùng tưới, giếng khoan dùng sinh hoạt, hoặc ngược lại.
| Giếng đào | Giếng khoan | |
|---|---|---|
| Lấy nước ở | Tầng nước nông, vài mét đến vài chục mét | Tầng sâu hơn, từ vài chục mét trở xuống tuỳ vùng |
| Dễ nhiễm bẩn từ mặt đất | Cao: nước mưa, nước chuồng, nước ao có thể thấm vào | Thấp hơn nếu ống bọc và miệng giếng được trám kín |
| Chất có sẵn trong đất đá | Thường ít hơn | Có thể có sắt, mangan, asen, mặn tuỳ tầng nước, tuỳ vùng |
| Mùa khô | Dễ cạn | Ổn định hơn, nhưng có nơi tụt mực nước khi nhiều nhà cùng khoan |
| Khi lũ ngập | Dễ nhiễm bẩn nặng | Nhiễm qua miệng giếng nếu không kín |
Không có loại nào an toàn tuyệt đối. Giếng đào cần chú ý nhất đến chuyện nhiễm bẩn từ mặt đất; giếng khoan cần chú ý nhất đến các chất có sẵn trong tầng nước, chỉ xét nghiệm mới biết.
Làm cho giếng sạch hơn: thành, nắp, sân giếng
Thành giếng cao. Thành giếng đào nên cao hơn mặt sân khoảng vài tấc để nước mưa, nước rửa trên sân không chảy ngược vào. Thành xây kín, phần trên cùng trát kín để nước bề mặt không rỉ qua kẽ gạch.
Nắp đậy. Giếng đào có nắp bằng tấm bê tông, tấm đan hoặc nắp gỗ dày, có thể khoá được. Nắp giữ lá, chuột, ếch nhái, côn trùng không rơi xuống, và là điều kiện bắt buộc khi trong nhà có trẻ nhỏ. Nếu lấy nước bằng máy bơm, giếng đậy kín hoàn toàn.
Sân giếng láng và dốc ra ngoài. Sân quanh giếng láng xi măng rộng ra mỗi phía khoảng một mét trở lên, dốc nhẹ ra phía ngoài, có rãnh dẫn nước đi xa. Không giặt giũ, rửa rau, tắm ngay sát miệng giếng mà để nước tràn quay lại.
Gàu và dây sạch. Gàu dùng riêng cho giếng, treo lên móc, không đặt xuống đất. Dây thay khi mục. Không dùng gàu múc nước giếng để múc nước ao hay cho gà uống.
Miệng giếng khoan kín. Với giếng khoan, khe giữa ống giếng và đất quanh miệng nên được trám kín, có bệ xi măng xung quanh. Khe hở là đường để nước bẩn trên mặt chảy dọc ống xuống tầng nước.
Nhận biết nước giếng có vấn đề
Một số vấn đề nhìn, ngửi, nếm được. Nước để một lúc chuyển vàng, có váng vàng nâu hoặc cặn đỏ, mùi tanh như sắt gỉ là dấu hiệu nhiễm sắt; nước làm bồn, chậu bám vệt đen là có thể có mangan. Nước có vị lợ, mặn là nhiễm mặn, thường gặp ở vùng ven biển và đồng bằng sông Cửu Long mùa khô. Nước có mùi trứng thối thường có khí sunfua. Nước đục sau mưa là có nước mặt thấm vào.
Nhưng những chất nguy hiểm nhất thường không nhìn, ngửi được. Asen không màu, không mùi, không vị; uống lâu năm liên quan tới các bệnh về da và ung thư. Ở Việt Nam, asen trong nước ngầm đã được ghi nhận ở một số vùng đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long, từng được các chương trình nước sạch nông thôn khảo sát rộng. Vi khuẩn từ phân, nitrat từ phân bón và chuồng trại cũng không thấy được bằng mắt.
Vì vậy cảm quan chỉ để biết khi nào cần làm gì thêm, không để kết luận nước an toàn. Nước trong, không mùi vẫn có thể có asen hay vi khuẩn.
Khi nào nên xét nghiệm nước giếng
Xét nghiệm nước nên làm ở cơ sở có phòng thí nghiệm đủ năng lực; hỏi trạm y tế xã hoặc trung tâm y tế ở địa phương để biết nơi nhận mẫu và cách lấy mẫu đúng. Những thời điểm nên xét nghiệm:
- Trước khi bắt đầu dùng một giếng mới hoặc một giếng cũ lâu năm bỏ không cho ăn uống.
- Khi về sống ở một vùng chưa rõ chất lượng nước ngầm, nhất là vùng từng được cảnh báo về asen, mặn.
- Khi nước đổi màu, đổi mùi, đổi vị so với trước.
- Sau khi giếng bị ngập lũ, sau khi có nước thải tràn tới gần giếng.
- Khi trong nhà có nhiều người bị tiêu chảy, đau bụng lặp lại mà không rõ nguyên nhân.
- Định kỳ vài năm một lần với giếng dùng ăn uống, hoặc khi có thay đổi lớn quanh giếng như xây chuồng mới, đào ao mới, khoan thêm giếng.
Kết quả xét nghiệm nên giữ lại, ghi ngày, để lần sau so sánh. Nếu có chỉ tiêu vượt mức, hỏi cán bộ y tế hoặc người làm nước có chuyên môn về cách xử lý phù hợp, đừng tự pha hoá chất theo truyền miệng.
Xử lý đơn giản ở mức gia đình
Với nước nhiễm sắt, phèn nhẹ, nhiều gia đình dùng bể lọc nhiều ngăn với lớp sỏi, cát, than: nước được làm thoáng (cho chảy qua giàn mưa hay tràn qua bậc) để sắt kết tủa, rồi lọc qua cát. Cách này giúp nước trong, bớt mùi tanh, nhưng không xử lý được asen ở mức đáng tin cậy, không loại được muối mặn, và không diệt hết vi khuẩn. Lớp cát cần rửa, thay định kỳ, nếu không chính bể lọc thành nơi bẩn.
Với vi khuẩn, đun sôi trước khi uống vẫn là cách chắc chắn nhất cho một gia đình. Nước đun sôi để nguội đựng trong bình có nắp, rót bằng vòi, không nhúng cốc vào. Với asen, mặn hay các chỉ tiêu hoá học vượt mức, các bộ lọc gia đình có loại xử lý được, có loại không; cần chọn theo kết quả xét nghiệm và lời khuyên của người có chuyên môn. Khi nước giếng không đạt cho ăn uống mà khó xử lý, cách đơn giản hơn là dùng giếng cho tưới, giặt, rửa chuồng, còn nước ăn uống lấy từ nước máy hoặc nước mưa trữ sạch.
Một mẹo đơn giản để theo dõi: giữ một chai thuỷ tinh trong suốt, mỗi tháng lấy nước giếng vào để yên một ngày rồi nhìn màu, cặn, váng. Ghi vào sổ cùng ngày lấy mẫu. Thay đổi rõ so với các tháng trước là dấu hiệu nên xét nghiệm lại, nhất là sau mùa mưa lớn hoặc khi quanh giếng vừa có công trình mới.
Sau mùa lũ: làm sạch giếng trước khi dùng lại
Lũ, ngập nước là lúc giếng dễ nhiễm bẩn nhất, nhất là giếng đào. Trình tự chung:
- Không dùng nước giếng cho ăn uống cho tới khi đã làm sạch; tạm dùng nước đóng bình, nước máy hoặc nước mưa đun sôi.
- Dọn rác, bùn, xác động vật quanh miệng giếng và trên sân giếng.
- Với giếng đào, bơm hoặc múc cạn nước bẩn nhiều lần cho tới khi nước trong hơn; nạo vét bùn đáy nếu làm được an toàn.
- Khử trùng giếng theo hướng dẫn của trạm y tế xã về loại hoá chất và liều lượng phù hợp với lượng nước; sau thời gian chờ, bơm bỏ bớt cho tới khi hết mùi hoá chất.
- Kiểm tra lại thành, nắp, sân giếng có nứt vỡ không, sửa trước khi dùng.
- Nếu được, xét nghiệm lại nước trước khi dùng cho ăn uống; trong thời gian chờ, đun sôi nước trước khi uống.
Không xuống giếng đào sâu một mình, nhất là ngay sau lũ hoặc khi giếng đã đậy kín lâu ngày: đáy giếng có thể thiếu ôxy hoặc có khí độc. Đã có nhiều trường hợp người xuống giếng ngất và người xuống cứu cũng ngất theo. Muốn xuống phải thông khí trước, có người trên miệng giếng, có dây buộc người.
Trữ và dùng nước ăn uống trong nhà
Nước giếng sạch có thể bẩn lại trên đường từ giếng vào bụng. Thùng, can, bể chứa trong bếp cần nắp, rửa định kỳ, đặt cao khỏi nền, không đặt gần chỗ để phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, xăng dầu. Múc nước bằng vòi hoặc bằng một gáo riêng có cán dài treo trên móc; không nhúng tay, nhúng cốc vào thùng nước uống.
Nước đun sôi để nguội đựng trong bình có nắp, dùng trong ngày hoặc vài ngày, rửa bình thường xuyên. Không đổ nước mới vào bình còn nước cũ mà không tráng rửa. Với trẻ nhỏ và người ốm, càng cần chú ý: pha sữa, nấu cháo cho trẻ dưới một tuổi chỉ dùng nước đã đun sôi.
Giữ riêng dụng cụ cho từng nguồn nước: thùng tưới, can nước ao, gáo múc cho gà sơn khác màu với thùng nước ăn uống. Thói quen nhỏ này tránh được chuyện người trong nhà, nhất là trẻ con và khách đến giúp việc, lấy nhầm nước. Thuốc bảo vệ thực vật, phân bón tuyệt đối không pha bằng thùng, can dùng để đựng nước ăn uống, và không rửa bình phun ở sân giếng.
Giữ mực nước và quan hệ hàng xóm
Ở những vùng nhiều nhà cùng khoan giếng, mực nước ngầm mùa khô có thể tụt dần qua các năm. Một nông trang gia đình dùng nước giếng tưới cả vườn lớn bằng máy bơm công suất cao vừa tốn điện vừa có thể làm giếng của nhà bên yếu đi. Đây là lý do nên dùng giếng chủ yếu cho sinh hoạt, còn tưới thì dựa vào nước mưa, nước ao và tưới tiết kiệm.
Nếu định khoan giếng mới, nên hỏi hàng xóm về độ sâu giếng của họ, chất lượng nước, mùa nào yếu; hỏi ủy ban xã xem địa phương có quy định gì về khoan giếng, khai thác nước ngầm. Thợ khoan giếng lâu năm ở địa phương thường biết tầng nước nào tốt, tầng nào nhiễm phèn, mặn; nghe họ nói trước khi quyết định độ sâu.
Giếng cũ không dùng nữa thì đừng bỏ hở. Lấp lại hoặc đậy kín bằng tấm bê tông chắc chắn, vì giếng bỏ hoang vừa là chỗ trẻ con, gia súc có thể rơi xuống, vừa là đường để nước bẩn chảy thẳng xuống tầng nước ngầm của cả xóm.
Câu hỏi thường gặp
Nước giếng trong và không mùi thì có cần đun sôi không?
Nên đun sôi trước khi uống. Nước trong và không mùi vẫn có thể có vi khuẩn từ phân hoặc các chất hoá học không nhìn thấy. Đun sôi diệt được vi khuẩn nhưng không loại được asen, nitrat hay muối; những chất này chỉ biết qua xét nghiệm.
Giếng cách chuồng gà bao xa là đủ?
Nhiều hướng dẫn vệ sinh nông thôn khuyên khoảng mười mét trở lên, chuồng đặt ở phía thấp hơn giếng. Đất cát, sỏi, giếng đào nông thì nên xa hơn. Quan trọng không kém là nước rửa chuồng phải có đường thoát riêng, không chảy về phía giếng.
Bể lọc cát có lọc được asen không?
Bể lọc cát làm thoáng giúp giảm sắt và có thể giảm một phần asen khi nước có nhiều sắt, nhưng hiệu quả không ổn định và khó tự kiểm tra. Với giếng đã biết có asen vượt mức, nên hỏi người có chuyên môn về cách xử lý phù hợp hoặc dùng nguồn nước khác cho ăn uống.
Có nên dùng nước giếng để tưới cả vườn không?
Được nếu giếng nhiều nước và nước không nhiễm mặn, nhưng nên ưu tiên giữ giếng cho sinh hoạt. Tưới bằng giếng nhiều có thể làm giếng yếu mùa khô và ảnh hưởng giếng hàng xóm. Nước giếng nhiễm mặn nhẹ tưới lâu ngày làm đất mặn dần, rau chậm lớn.
Giếng đào bị ngập lũ bao lâu thì dùng lại được?
Không tính bằng số ngày mà bằng việc đã làm sạch hay chưa. Cần múc cạn, khử trùng theo hướng dẫn y tế, sửa thành giếng và nếu được thì xét nghiệm lại. Trong thời gian chưa chắc chắn, chỉ dùng nước giếng để tắm giặt, và đun sôi nếu buộc phải uống.
Giếng cũ bỏ không thì xử lý thế nào?
Nếu không dùng nữa, nên lấp lại bằng đất sạch, đá, hoặc đậy kín vĩnh viễn bằng tấm bê tông chắc chắn. Không dùng giếng bỏ làm hố đổ rác, hố nước thải. Giếng hở là nguy cơ cho trẻ em, gia súc và là đường dẫn chất bẩn xuống nước ngầm.