NongTrang.comNông Trang
Năm đầu tiên: từ phố về quê làm nông trang

Lịch năm đầu làm nông trang theo miền: 12 tháng ở miền Bắc, miền Trung và miền Nam

Năm đầu ở quê, tháng nào làm đất, tháng nào gieo, tháng nào giữ vườn qua mưa bão hay nắng hạn: lịch 12 tháng cho vườn gia đình ở ba miền và Tây Nguyên.

Person in a conical hat bending over young mustard greens in a family plot under winter drizzle, bamboo trellis behind, muted light, wide view

Lịch năm đầu của nông trang gia đình đi theo hai mùa lớn của từng miền: miền Bắc xoay quanh vụ rau đông từ khoảng tháng 9 đến tháng 2; miền Nam và Tây Nguyên xoay quanh mùa khô từ khoảng tháng 11 đến tháng 4; miền Trung phải né mùa mưa lũ cuối năm và nắng nóng giữa năm. Mùa dễ là mùa mở luống, gieo nhiều; mùa khó là mùa giữ đất, che phủ, làm ít mà chắc.

Các mốc tháng dưới đây là khoảng chung theo khí hậu từng vùng, mỗi năm có thể lệch vài tuần. Người mới nên dùng lịch này để biết đang ở đâu trong năm, rồi chỉnh theo thời tiết thật và theo lời người làm vườn lâu năm trong xóm.

Đọc thời tiết trước khi đọc lịch

Lịch làm vườn không phải lịch ngày giờ cố định mà là lịch theo thời tiết. Cùng là miền Bắc, vùng trung du có rét đến sớm hơn đồng bằng ven biển; cùng là miền Nam, vùng ven biển có nắng gió mặn khác hẳn vùng phù sa ven sông. Vì vậy câu hỏi đúng không phải "tháng này trồng gì" mà "mấy tuần tới trời sẽ thế nào, đất đang ẩm hay khô, đêm còn nóng hay đã mát".

Người xưa dùng tiết khí làm mốc, như Lập Xuân, Thanh Minh, Lập Thu, Sương Giáng, và mốc này vẫn có ích vì nó bám theo vị trí mặt trời, tức theo độ dài ngày và nhiệt độ trung bình. Kết hợp tiết khí với dự báo thời tiết vài ngày tới và với quan sát của chính mình (sương sớm, gió đổi hướng, kiến tha trứng lên cao trước mưa) là đủ để chọn ngày gieo hạt.

Năm đầu chưa có kinh nghiệm riêng, mỗi lần định gieo một thứ mới nên hỏi một người làm vườn lâu năm cùng xóm: "Giờ này gieo cải được chưa?" Câu trả lời của họ đã gói cả chục năm thời tiết địa phương, chính xác hơn mọi lịch in sẵn.

Lịch tóm tắt theo hai tháng một chặng

Bảng sau tóm tắt việc chính theo từng chặng hai tháng ở ba vùng lớn. Miền Trung ở đây chủ yếu là dải ven biển từ Thanh Hoá đến khoảng Khánh Hoà; Tây Nguyên có nhịp mùa gần với miền Nam nhưng đêm mát hơn.

ThángMiền BắcMiền Trung ven biểnMiền Nam và Tây Nguyên
1–2Thu rau đông, che rét cho cây con, ủ phân chuẩn bị vụ xuânGieo rau vụ xuân sau mưa, làm luống caoGiữa mùa khô: tưới gốc, phủ rơm dày, thu rau cải, củ
3–4Gieo rau ăn quả vụ xuân (bầu, bí, mướp, dưa leo), trồng khoai langThu rau xuân, chuẩn bị che nắng cho mùa nóngCuối mùa khô: trữ nước, làm đất, chuẩn bị luống cho mùa mưa
5–6Bắt đầu nóng và mưa rào: rau muống, mồng tơi, rau dềnNắng nóng, có nơi gió khô: lưới che, tưới sáng sớmĐầu mùa mưa: gieo rau muống, mồng tơi, trồng chuối, đu đủ
7–8Mưa nhiều, bão: khơi rãnh, giữ luống, gia cố chuồngCòn nóng: rau chịu nhiệt, ươm cây con cho vụ thuMưa dầm: luống cao, giàn leo, phòng úng và nấm
9–10Gieo vụ đông sớm: cải, su hào, bắp cải, xà láchMùa mưa lũ bắt đầu: hạn chế mở luống mới, kê cao chuồngGiữa đến cuối mùa mưa: chuẩn bị luống cho mùa khô
11–12Chính vụ đông: rau cải, củ, hành tỏi, rau thơmMưa lũ, rét đầu mùa: giữ đất, chờ ráo mới gieoĐầu mùa khô: chính vụ rau ăn lá, cà chua, dưa leo

Bảng chỉ là khung; mỗi tỉnh, mỗi thung lũng có khác biệt. Gặp năm rét muộn, mưa sớm thì dời theo trời, không cố theo bảng.

Miền Bắc: vụ đông là mùa của người mới

Ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ, khoảng từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau trời mát dần rồi lạnh, mưa ít, sâu bệnh giảm. Đây là mùa dễ nhất cho người mới: cải xanh, cải ngọt, su hào, bắp cải, súp lơ, xà lách, cà rốt, hành, tỏi, rau mùi đều lên tốt. Nếu về quê trước tháng 9, gia đình có đủ thời gian quan sát đất, dựng luống, ủ phân để đón vụ đông đầu tiên.

Khó khăn của miền Bắc nằm ở hai đầu năm. Từ tháng 12 đến tháng 2 có những đợt rét đậm dưới mười độ, cây con mới gieo bị chậm lớn hoặc chết; khi đó nên che nilon hoặc rơm vào ban đêm, mở ra ban ngày. Từ khoảng tháng 6 đến tháng 9 là mùa mưa bão: luống thấp bị úng, rau ăn lá nhanh thối. Mùa này chuyển sang rau chịu nước như rau muống, mồng tơi, rau đay, khoai lang, và đắp luống cao, khơi rãnh trước khi mưa lớn.

Mưa phùn nồm cuối đông đầu xuân làm không khí ẩm kéo dài, dễ sinh nấm trên lá và mốc trong đồ phơi khô. Đây cũng là lúc gieo các loại bầu bí cho vụ xuân, nhưng cần chọn ngày hửng nắng và luống thoát nước tốt.

Miền Trung: né mưa lũ cuối năm và nắng nóng giữa năm

Dải ven biển miền Trung có nhịp mùa khác hai đầu đất nước. Mùa mưa chính thường rơi vào khoảng tháng 9 đến tháng 12, kèm bão và lũ, nhiều nơi nước dâng nhanh. Giữa năm lại nắng nóng, một số vùng Bắc Trung Bộ có gió Tây khô nóng thổi nhiều ngày làm rau héo dù đã tưới. Năm đầu ở miền Trung, hai mùa này là hai thử thách lớn.

Mùa trồng dễ nhất thường là từ khoảng tháng 1 đến tháng 4, sau khi mưa lũ rút, trời mát và còn ẩm: gieo rau ăn lá, rau thơm, dưa leo, bí, đậu. Đến mùa nóng, nên căng lưới che nắng một phần cho luống rau ăn lá, tưới vào sáng sớm, phủ rơm thật dày để giữ ẩm.

Trước mùa mưa lũ, việc quan trọng nhất là chuẩn bị: kê cao chuồng gà, chọn chỗ tránh nước cho đống ủ phân và dụng cụ, gặt hái những gì đã chín, không gieo mới ở chỗ trũng. Người mới về nên hỏi hàng xóm mức nước các năm lũ lớn từng lên tới đâu trong vườn và trong nhà, rồi đặt mọi thứ quý trên mức đó.

Phần cực nam của dải này, vùng Ninh Thuận cũ nay thuộc Khánh Hoà và vùng ven biển Bình Thuận cũ nay thuộc Lâm Đồng, lại khô hơn hẳn: mưa ít, gió nhiều, đất cát giữ nước kém. Ở đây lịch vườn xoay quanh nước nhiều hơn quanh mùa: luống trũng hơn mặt đất một chút để giữ nước, phủ rơm, rào chắn gió bằng hàng cây hoặc phên tre, và chọn rau chịu hạn như rau dền, mồng tơi, đậu bắp, bầu bí bò đất.

Miền Nam và Tây Nguyên: lấy mùa khô làm mùa chính

Ở Nam Bộ, năm chia khá rõ hai mùa: mùa mưa khoảng tháng 5 đến tháng 11, mùa khô khoảng tháng 12 đến tháng 4. Tây Nguyên cũng hai mùa tương tự nhưng đêm mát hơn, mùa khô gió mạnh và đất khô nhanh hơn. Khác với miền Bắc, nhiệt độ ở đây không quá lạnh, nên quanh năm đều trồng được rau, chỉ khác loại rau và cách giữ ẩm.

Đầu mùa khô là chính vụ cho cải, xà lách, cà chua, dưa leo, đậu, rau thơm, vì ít mưa nên ít nấm bệnh. Khó khăn là nước: cuối mùa khô nhiều nơi giếng cạn, ven biển có nước mặn xâm nhập. Năm đầu nên trữ nước từ cuối mùa mưa bằng lu, bể, và dồn tưới vào gốc thay vì tưới tràn.

Mùa mưa thì ngược lại: nước thừa, sâu bệnh và cỏ dại nhiều. Đây là mùa của rau muống, mồng tơi, rau ngót, khoai môn, chuối, đu đủ và giàn leo như mướp, bầu, khổ qua trên luống cao. Không nên để đất trống trong mùa mưa: đất trống bị nước cuốn mặt, cỏ mọc kín chỉ sau vài tuần. Phủ rơm, trồng cây phân xanh hoặc khoai lang bò kín mặt luống sẽ giữ đất cho mùa khô tới.

Riêng Tây Nguyên, đất đỏ bazan trên dốc dễ trôi khi mưa to đầu mùa, nên luống chạy ngang theo đường đồng mức thay vì dọc dốc. Mùa khô ở đây gió mạnh làm lá rau rách và đất khô rất nhanh; một hàng rào cây thấp hoặc phên tre phía hướng gió, cộng lớp phủ dày, có khi quyết định luống rau sống hay chết trong những tuần cuối mùa khô.

Những mốc dễ lỡ trong năm đầu

Người mới thường không lỡ mùa gieo chính, mà lỡ những việc chuẩn bị trước mùa vài tuần. Một số mốc nên đánh dấu sẵn trong sổ:

  • Ủ phân trước mùa trồng chính ít nhất hai đến ba tháng để phân kịp hoai.
  • Ươm cây con (cà chua, ớt, cải bắp) trước ngày cấy ra luống khoảng ba đến năm tuần.
  • Gia cố chuồng gà, khơi rãnh, kê cao đồ đạc trước mùa mưa bão, không đợi tin bão mới làm.
  • Trữ nước vào cuối mùa mưa, trước khi giếng xuống thấp.
  • Để giống từ cây khoẻ khi mùa sắp hết, không đợi cây tàn hết mới tìm quả già.
  • Thu hoạch và phơi trữ trước đợt mưa dầm hoặc nồm ẩm, vì đồ phơi dở dang dễ mốc.

Ghi các mốc này vào sổ theo ngày thật của năm đầu. Sang năm thứ hai, chỉ cần nhìn sổ là biết nên chuẩn bị gì từ tháng trước, thay vì chạy theo thời tiết.

Một mẹo nhỏ: viết mỗi mốc kèm dấu hiệu tự nhiên đi cùng nó trong năm đầu, như "khi hàng xóm bắt đầu cày ruộng", "khi đêm đã phải đắp chăn mỏng", "khi giếng xuống tới bậc thứ ba". Dấu hiệu tự nhiên bám theo trời của năm đó, đáng tin hơn con số ngày tháng trên giấy.

Chỉnh lịch theo mảnh đất của mình

Lịch chung cho cả miền chỉ đúng một nửa. Nửa còn lại nằm ở vi khí hậu của mảnh đất: vườn nằm dưới chân đồi có sương muộn hơn, vườn sát bờ sông ẩm hơn, vườn có rặng tre phía tây đỡ nắng chiều. Hai nhà cách nhau một con đường có thể gieo cải lệch nhau cả tuần.

Cách chỉnh đơn giản là gieo thử theo đợt nhỏ. Thay vì gieo một luống lớn vào ngày nghĩ là đúng mùa, chia làm ba lần, mỗi lần cách nhau mười ngày đến hai tuần. Đợt nào lên tốt nhất thì ghi lại, năm sau gieo chính vào khoảng đó. Cách này vừa tránh được rủi ro trúng ngày mưa to, vừa có rau ăn rải đều thay vì một lần thu quá nhiều.

Cuối năm đầu, đặt lịch chung bên cạnh sổ ghi chép của nhà mình và viết lại một lịch riêng cho vườn nhà. Đó là thứ quý nhất năm đầu để lại, dùng được nhiều năm và chỉ cần chỉnh nhẹ theo từng năm thời tiết.

Câu hỏi thường gặp

Về quê đúng mùa mưa thì nên làm gì trước?

Mùa mưa vẫn làm được nhiều việc: quan sát đường nước chảy và chỗ đọng, dựng chuồng gà, mở góc ủ phân, trồng chuối, đu đủ, rau ngót, khoai lang vì chúng hợp mưa. Luống rau ăn lá thì làm vài luống cao gần nhà, chưa mở rộng. Khi trời ráo mới làm đất kỹ cho mùa chính.

Tiết khí có dùng được cho lịch làm vườn không?

Dùng được như một mốc nhắc, vì tiết khí bám theo vị trí mặt trời, tức theo độ dài ngày và nhiệt độ trung bình. Nhưng tiết khí không thay được dự báo thời tiết và quan sát thực tế; năm rét muộn hay mưa sớm thì phải chỉnh theo trời, không cố gieo đúng ngày tiết.

Ở miền Nam có trồng được su hào, bắp cải như miền Bắc không?

Ở đồng bằng Nam Bộ, các loại rau ưa lạnh như su hào, bắp cải, súp lơ thường khó cho kết quả tốt vì đêm không đủ mát, trừ một số giống chịu nhiệt. Vùng cao Tây Nguyên thì trồng tốt hơn nhờ khí hậu mát. Người mới nên ưu tiên rau hợp khí hậu địa phương.

Mùa nào trong năm đầu dễ bỏ cuộc nhất?

Thường là mùa khó đầu tiên: mùa mưa bão ở miền Bắc, mùa lũ ở miền Trung, cuối mùa khô ở miền Nam. Cỏ mọc nhanh, rau hỏng, người mệt. Biết trước mùa này sẽ khó và chủ động thu nhỏ vườn, che phủ đất, giúp vượt qua mà không thấy mình thất bại.

Có cần lịch riêng cho gà vịt không?

Có, nhưng đơn giản hơn lịch rau. Cần nhớ gia cố chuồng trước mùa mưa bão và rét, giữ chuồng khô thoáng mùa nồm, che mát mùa nắng, tiêm phòng theo hướng dẫn của thú y xã. Gà thường đẻ ít hơn trong những tuần rét đậm hoặc nắng gắt, điều này bình thường.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.